Thursday, 17 May 2018

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (26)

Từ theo cộng đến chống cộng (26): Suốt đời không thể sửa sai!

Tôi vào báo Lao Động thì anh Nguyễn Anh Tài đang làm phóng viên thường trú ở khu 4 (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh). Anh vừa tốt nghiệp trường kỹ nghệ thì Cách Mạng Tháng Tám, rồi kháng chiến chống Pháp. Anh vào làm ở binh công xưởng. Một lần anh trộn thuốc bị nổ, gãy xương cánh tay và mù một mắt. Anh vào nghề viết lách bằng bài thơ ‘Con đường Lâm’, ca ngợi một anh hùng hy sinh thời chống Pháp, tên được đặt trong một con đường ở thị xã Quảng Bình. Anh lấy vợ là một ca sỹ trong đội đồng ca đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân đội. Anh hay kể với giọng tự hào về cô vợ xuất thân bần nông của mình: “Cô ấy kể từ năm lên tám đã khéo léo tự leo lên lưng con trâu cổ.” Những lúc như vậy, anh tỏ ra là một đảng viên thấm nhuần lập trường giai cấp của đảng Cộng sản. Khi thân nhau, không ít lần tôi được anh thổ lộ nỗi khổ về sự thô bạo “dùi đục chấm mắm cáy” của cô vợ bần nông. Sau đó anh kể về mối tình đầu đẹp đẽ nhưng trái ngang của mình với một chị tên Hương. Từ năm 1969 tôi chuyển nhà từ nơi cùng khu phố với anh ở quận Hoàn Kiếm về quận Đống Đa. Vậy mà khi có chuyện không vui với vợ, ngay dưới nắng hè cháy da anh vẫn đạp xe đạp tới nhà tôi để tâm sự. Tôi phải nghe đi nghe lại không biết là lần thứ mấy câu chuyện cũ mà vì thương bạn, tôi cứ tỏ ra chăm chú lắng tai như mới được nghe lần đầu!

Sunday, 13 May 2018

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (25)

Từ theo cộng đến chống cộng (25): Người có lý lịch rất xấu và bị nhiễm dân chủ tư sản

Từ vụ việc kể trên, tôi tò mò tìm hiểu về anh Hoàng Nghinh.
Anh hơn tuổi tôi đúng một giáp, lúc ấy vừa tròn 40, nhưng đầu tóc bạc phơ như ông lão 80. Những người quen biết anh nói ông ấy lo nghĩ còn hơn cả Ngủ Tử Tư (nhân vật trong tiểu thuyết Đông Châu Liệt Quốc sau một đêm suy nghĩ không ngủ được, toàn bộ râu tóc biến thành trắng xoá).

Thursday, 10 May 2018

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (24)

Từ theo cộng đến chống cộng (24): Truyện ngắn “Dũng” đưa tôi vào nghề báo

Tôi đến xin việc ở vài tờ báo. Người ta tiếp tôi rất lạnh nhạt, bảo trước hết hãy viết bài gửi cho báo cho đến bao giờ ban biên tập thấy có khả năng sẽ gửi giấy gọi. Đầu năm 1958 báo Thống Nhất tổ chức cuộc thi viết về đề tài miền Nam. Tôi viết truyện ngắn “Dũng” gửi dự thi có ý để tìm việc làm ở ngành viết lách. Đây là chuyện viết theo luận đề minh họa lý thuyết của đảng Cộng sản “có áp bức thì có đấu tranh”. Nhân vật chính trong truyện Dũng một bé gái tên Nhu tính nhút nhát, không dám nhìn thấy máu, dù là máu của con gà, con ếch, nhưng trước sự đe dọa tính mạng của cha mình, em vụt trở nên dũng cảm. Năm 1959 công bố giải ở Câu lạc bộ Thống Nhất. Cụ Tôn Đức Thắng đến dự và trao giải.

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (23)

Từ theo cộng đến chống cộng (23): Làm thơ cải cách ruộng đất

Cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Năm 1956, sau khi sắp xếp lại tổ chức xong, các đơn vị bộ đội miền Nam bắt đầu học chỉnh huấn về cải cách ruộng đất. Các chính trị viên giảng về lý luận của cuộc cách mạng “phản phong”, xóa bỏ hình thức bóc lột của địa chủ, phú nông ở nông thôn. Sau đó, “cốt cán chuỗi rễ” là những bần cố nông có thành tích đấu tố xuất sắc trong cải cách ruộng đất ở địa phương đến kể chuyện thực tế. Hồi này chưa phát hiện những sai lầm ghê gớm trong cải cách ruộng đất, chưa có từ “tố điêu” nói về những bịa đặt của bần cố nông cố gắng làm vừa lòng cán bộ đội cải cách. Tôi chỉ có thắc mắc: “Vì sao mà địa chủ ở miền Bắc ác hơn hẳn địa chủ ở miền Nam?” Các chính trị viên giải thích: “Vì địa chủ miền Bắc nghèo hơn nên cố vơ vét!” Từ các buổi nghe kể chuyện thực tế, tôi viết bài thơ “Chị Cả” đăng lên báo tường của đại đội và gửi một bản lên báo Quân đội Nhân dân. Không ngờ bài thơ này được vào chung khảo cuộc thi của Ủy ban cải cách ruộng đất và được in trong tập mang tên “Đường Làng” tên bài thơ của Phác Văn. Tập thơ gồm những tác giả: Thanh Tịnh, Nguyễn Bao, Nguyễn Viết Lãm, Phác Văn, Hải Như, Hữu Thọ, Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vượng. Dưới tên tôi, được chua thêm hai chữ “bộ đội”.
Sau này tôi mới biết, địa chủ miền Bắc cũng giống như địa chủ miền Nam, họ là những người có trí, có học, tổ chức công việc giỏi giang nên trở nên giàu có. Hầu hết họ đã đóng góp lớn cho Tuần Lễ Vàng, đã tham gia kháng chiến. Người địa chủ lớn tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Năm đã bị đấu tố, giết hại thê thảm. Ngoài ra còn rất nhiều địa chủ miền Bắc lâm cảnh như thế. Bố anh Hữu Tính trưởng văn phòng miền Nam báo Lao Động tham gia cách mạng từ năm 1945, làm chủ nhiệm Ủy ban Mặt trận Việt Minh huyện, có con gái là bí thư đảng ủy các cơ quan trung ương, con rể là thư ký phó chủ tịch Tôn Đức Thắng, đã bị đấu tố là một tên địa chủ chui vào hàng ngũ cách mạng, phải xử bắn! Anh Ngọc Liên, trưởng ban Bảo hộ Lao động của Tổng Liên đoàn Lao động thời ấy cũng bị đấu tố là địa chủ phản động, bị bắt giam, bỏ đói suýt chết.
Vào làm phóng viên báo Lao Động ngày 1 tháng 1 năm 1960, sau “sửa sai cải cách ruộng đất” đã 3 năm, tôi mới được biết bài thơ của mình được vào chung khảo một cuộc thi và in chung với nhiều tác giả đã nổi tiếng. Nhưng lúc ấy tôi không thấy vui mà cảm thấy xấu hổ vì đã được đọc bài thơ “Em bé lên sáu tuổi” của Hoàng Cầm cũng được viết khoảng thời gian đó, có những câu:
Chị bần nông cốt cán,
Ứa nước mắt quay đi:
Nó là con địa chủ,
Bé bỏng đã biết gì.
Hôm em cho bác cháo,
Chịu ba ngày hỏi truy,
Chi đội bỗng lùi lại,
Nhìn đứa bé mồ coi,
Cố tìm vết thù địch,
Chỉ thấy một con người!
Cùng trải qua một tình huống tương tự mà tôi cố viết theo ý đồ tuyên truyền, không có cảm xúc nhân văn như ông! Tiểu đội tôi đóng quân trong ngôi nhà của địa chủ nay cấp cho gia đình cố nông. Gia đình địa chủ bị dồn vô dãy nhà sau trước kia dành cho người làm, người ở. Một hôm chúng tôi đang ăn cơm thì bé gái con địa chủ đứng ngoài cửa sổ nhìn vào với vẻ thèm thuồng. Cảm thấy tội nghiệp, tôi xúc cho nó bát cơm đưa qua cửa sổ. Vì chuyện này tôi bị phê phán “mất lập trường giai cấp”. Sau khi học chỉnh huấn cách mạng ruộng đất, chi bộ xóa tên tôi khỏi danh sách “quần chúng cảm tình Đảng chuẩn bị kết nạp”. Cũng trong thời gian này Huỳnh Dư Khải ghé thăm tôi, báo tin buồn. Ra Bắc, Khải đã là thiếu úy, chi ủy viên của chi bộ đại đội trong Tiểu đoàn 308 nổi tiếng (chỉ đứng sau tiểu đoàn 307). Cấp trên cho biết với lý lịch vào bộ đội từ lúc 15 tuổi, “chiến công đầy mình”, nếu lãnh đạo cuộc chỉnh huấn đại đội đạt kết quả tốt, Khải sẽ được đề bạt vượt cấp. Khải đã trung thực khai cha mình là địa chủ, Hương cả Quỳnh Dư Khiêm đứng đầu Ban Hội tề. Khải sống với bác ruột là ông hội đồng Huỳnh Dư Thuần để gần trường học. Sao chỉnh huấn, cấp trên bảo Khải “từ trong trứng của giai cấp bóc lột, cần phải thử thách cải tạo nhiều hơn nữa”. Anh được đưa vào danh sách giảm quân giống như tôi, nhưng anh không thể chịu cam phận như tôi, bởi đã từng là một người hùng. Khải kể: “Tao đã xé giấy giới thiệu đảng viên vứt vô mặt thằng bí thư. Tao sẽ mua chiếc xe ba gác để chở hàng thuê và làm giường ngủ. Khi nào mày về Hà Nội thì kiếm tao ở chợ Hàng Da.”
Sau tháng Tư năm 1975, Huỳnh Dư Khải về quê. Cả làng An Bình Tây vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn từ năm 1947 nay chỉ là một anh bạch đinh, đi làm thuê kiếm sống.

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (22)

Từ theo cộng đến chống cộng (22): Bác Hai lại nói về đảng Cộng sản và đảng Dân chủ

Ngày chủ nhật, tôi thường từ Cầu Diễn đi bộ ra Cầu Giấy rồi lên tàu điện ra Hà Nội đi mua sách báo. Do không có nhiều tiền, tôi vào hiệu sách báo xem vài tờ báo rồi mua một quyển sách, sau đó tới cửa hàng sách báo khác, cũng lặp lại như thế. Tôi đã đọc theo cách đó tất cả các số báo Trăm HoaNhân văn Giai phẩm mà không phải bỏ tiền mua. Một hôm, vừa rời nhà sách bước ra đường thì tôi gặp bác Hai Trần Trung Trực, nguyên Phó Ty Giáo dục Bến Tre thời chống Pháp. Thấy tôi mặc quân phục bác rất vui: “Tao không ngờ ốm yếu như mày mà vẫn còn ở bộ đội. Mấy thằng con tao chuyển ngành hết rồi!”. Bác đâu ngờ tôi chỉ là chú lính gánh gạch, trộn vữa, học xây nhà! Bác đưa tôi đến Ty Giáo dục Hà Nội cơ quan của bác hiện nay, để bác cháu tâm tình. Bác nói bác đang làm bí thư chi bộ, tôi hỏi: “Là bí thư chi bộ đảng Dân Chủ hả bác Hai?”

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (21)

Từ theo cộng đến chống cộng (21): Giơ hai ngón tay hẹn hai năm gặp lại!

Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, tất cả các cơ quan quân, dân, chính, đảng đều tổ chức học tập về “thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ cho toàn nhân loại”. Tôi được học tập ở đại đội thông tin liên lạc của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ. Sau đó chuẩn bị tập kết ra Bắc để rèn luyện quân đội lên chính quy, hiện đại, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước năm 1957 theo Hiệp Định. Cuộc học tập của cơ quan cha tôi (tạp chí Tân Trung Hoa, thuộc Hội Việt-Hoa Hữu Nam bộ) có nhiều trí thức từ Sài Gòn ra dự. Điều rắc rối cho cha tôi là ông cứ khăng khăng cho rằng không thể thực hiện được việc tổng tuyển cử thống nhất nước nhà vào năm 1957. Ông lập luận các hiệp định được ký kết giữa hai phe đối nghịch không phải là để cùng nhau thực hiện. Pháp rút, Mỹ sẽ thay để giữ Nam Việt ở phe tư bản. Bắc Việt theo phe xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa để giành thống nhất. Tương quan lực lượng giữa hai phe cho thấy không thể thống nhất nước nhà trong vòng hai năm. Phát biểu của cha tôi làm cho ban tổ chức cuộc học tập rất tức giận. Họ gặp riêng khuyên cha tôi phải đặt niềm tin vào sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Nhưng cha tôi vẫn giữ ý kiến của mình.

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (20)

Từ theo cộng đến chống cộng (20): Hai ông nhân sĩ trí thức xin vào Đảng

Trạm liên lạc 23 khi tôi là trạm trưởng đóng ở Cái Nước gần Sở Y tế do bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng làm giám đốc. Hồi này ông nổi tiếng với chủ trương kết hợp Đông Tây Y để điều trị bệnh (Đông y chủ yếu là thuốc Nam), vận động xóa bỏ cầu tiêu ven sông rạch, làm hố xí có hầm chứa phân bên cạnh, đặc biệt là hướng dẫn tập dưỡng sinh. Cán bộ nhân viên Sở Y tế Nam bộ quý trọng ông giám đốc ở cách cư xử: khi đi công tác xa, ông thay phiên chèo xuồng để anh cần vụ cũng được nghỉ ngơi. Mỗi ngày ông dành hai tiếng đồng hồ chài cá. Anh cần bộ bơi xuồng, ông Hưởng quăng chài, có hôm được cả gánh cả, ăn không hết phải cho hàng xóm. Tôi thường xuyên xin cá của ông, dần dà quen thân, gọi ông theo cách gọi của cán bộ nhân viên của sở: bác Ba! Trong số người gọi ông là bác Ba có chị y sĩ Hạnh, đến năm 1954, sau khi bác Ba gái qua đời, chị Hạnh được ông “đề bạt” lên em Hạnh rồi trở thành vợ. Dù chị đã được “thay bậc đổi ngôi” tôi vẫn gọi hai người như cũ: bác Ba, chị Hạnh. Sau khi tập kết ra Bắc, ông lên bộ trưởng và ngày trở lại miền Nam ông đã nghỉ hưu, thỉnh thoảng tôi vẫn đến thăm ông.