Friday, 26 July 2013

Gương người tốt việc tốt

Bài quá hay, của nguoibuongio1972.

Thứ năm, ngày 25 tháng bảy năm 2013

Gương nguời tốt việc tốt giờ ở đâu.?

Mấy chục năm trước trên báo chí hay dành một mục để ca ngợi người tốt, việc tốt. Thời đó nhà cầm quyền hay có trò phát động thi đua tăng gia, sản xuất, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch quý, năm... Gương người tốt việc tốt cứ nhan nhản. Người tốt có thể là một cô công nhân làm việc ở nhà máy dệt mùng 8-3 hay Nam Định đã hoàn thành kế hoạch và vượt cả định mức kế hoạch. Hoặc là anh công nhân lái mày cày, chị nông dân... người tốt, việc tốt là những điểm son để cho thấy kế hoạch, đường lối của Đảng và chính phủ được nhân dân tin tưởng, ra sức chấp hành.

Bẵng đi mấy chục năm nay, không thấy báo chí còn mục người tốt việc tốt nữa. Cứ nghĩ hay là trò ấy bây giờ xưa quá rồi nên chả ai tuyên truyền. Hóa ra là vẫn có đầy các bạn ạ. 

Người tốt việc tốt bây giờ khéo lắm, họ ẩn mình sau những tâm sự trên báo chí để ủng hộ chính sách nhà nước. Ví dụ này nhé, khi mà lạm phát dâng cao ngất, bà con nội trợ méo mặt khi cầm tiền đi chợ. Đo đếm cân đóng từng mớ rau, con cá. Những người nội trợ phẫn uất mà than vãn. Lập tức có một phụ nữ tên Nguyễn XY làm nghề văn phòng cho một công ty trung trung. XY bao giờ cũng trong tầng lớp không cao lắm nhưng cũng không thấp lắm, vì bọn cao lắm thì nó chả kêu ca giá cả làm gì, nhà chúng đầy tiền và ta gặp chúng trên những chuyến bay cuối tuần sang Sing, Hồng Kông chỉ để đi chợ mua thức ăn cho cả tuần. Bọn thấp quá thì biết gì mà lên báo chí kêu ca. Chỉ có chị XY là ở tầng chung chung mà thường lên tiếng ở các diễn đàn như Làm Cha Mẹ, Webtretho...

Nguyễn Kim Thản - nhà ngôn ngữ học mở đường

Bài của Phạm Văn Tình, đăng lại theo Tìm hiểu từ nguyên.


Nguyễn Kim Thản - Chân dung một người khai phá

• Phạm Văn Tình
PGS. Nguyễn Kim Thản kể với tôi, lúc đầu cuộc đời ông không hề có duyên nợ gì với Ngôn ngữ hay Văn chương cả. Ông vốn là một cán bộ làm công tác Đảng, làm tới chức Bí thư huyện uỷ huyện Kim Thành – Hải Dương, rồi Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ Hải Dương... Nhớ lại chuyện đó ông hay nói đùa: "Nếu mình cứ tiếp tục con đường này dễ có khi bây giờ mình vào Trung ương rồi cũng nên. Lúc đó các cậu muốn gặp tớ cũng khó đấy!".
[ PGS. Nguyễn Kim Thản ]
Kể cũng lạ cho bước đường công danh sự nghiệp của ông. Có ai ngờ từ một cán bộ hành chính công chức, ông lại trở thành một trong những nhà ngôn ngữ học đầu ngành. Chính nhờ có sự phân công của Đảng, ông được cử đi học Ngữ văn và sau đó làm chuyên gia Việt Nam giảng dạy tại các trường đại học ở Bắc Kinh – Trung Quốc (1950 – 1957). Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập năm 1956, sau một năm (1957), Nguyễn Kim Thản về Khoa Văn, làm cán bộ giảng dạy. Lúc đó, ông đã 30 tuổi. Bấy giờ, tuổi ấy mà mới bước vào giảng đường đại học là hơi muộn, nhưng với Nguyễn Kim Thản (và nhiều nhà khoa học khác) lại là quá sớm. Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc đó do GS. Hoàng Xuân Nhị làm Chủ nhiệm chưa có chuyên ngành Ngôn ngữ học. Người ta chỉ biết đến cái tên Tổng hợp Văn như một ngành duy nhất dành riêng cho Văn học (sau đó có mở thêm lớp Hán – Nôm). Ngôn ngữ học là một cái gì đó còn rất xa vời. Nguyễn Kim Thản được cử làm Tổ trưởng Bộ môn Ngôn ngữ mà giáo viên "dưới quyền" cũng chỉ có mấy thầy. Nguyễn Kim Thản dạy Ngữ pháp, Nguyễn Văn Tu dạy Từ vựng, Lưu Vân Lăng dạy Dẫn luận ngôn ngữ học, Cao Xuân Hạo dạy Ngữ âm...

Thursday, 28 February 2013

TRẠI SÚC VẬT - ANIMAL FARM -


TRẠI SÚC VẬT

ANIMAL FARM

George Orwell 1943-44
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường 2003

Nguồn: http://phamnguyentruong.blogspot.com/2013/02/george-orwell-trai-suc-vat.html

Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của G. Orwell, và nhân dịp Nhã Nam cho ấn hành bản dịch của An Lý, nghe nói sẽ phát hành nay mai.



Đôi lời phi lộ (của dịch giả): Để chuẩn bị kỉ niệm 110 năm ngày sinh của George Orwell và kỉ niệm 9 năm ngày mỗ công bố bản dịch này trên talawas.org, xin post lại ở đây để mọi người cùng đọc và chiêm nghiệm. 

Lời giới thiệu
  
Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và Ukraine. Sau hơn 50 năm, kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31. 



Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell chúng tôi xin giới thiệu Trại Súc Vật, một trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông với lời tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Ukraine do chính Orwell viết. Lời tựa này được Orwell viết bằng tiếng Anh (bản gốc đã bị thất lạc), theo đề nghị của người tổ chức dịch thuật và phân phối tác phẩm này cho những người Ukraine chạy trốn chế độ Xô viết và sống trong các trại tạm cư do quân đội Anh và Mĩ thiết lập trên đất Đức. Lời tựa được dịch sang tiếng Ukraine dành cho lần xuất bản đầu tiên vào năm 1947, nhà sách Penguin Classic trong lần xuất bản năm 2000 đã cho dịch lại và in kèm với lời giới thiệu của Malcolm Bradbury. 

Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt. 

Phạm nguyên Trường 

Tôi được yêu cầu viết lời giới thiệu cho bản dịch tác phẩm Trại Súc Vật sang tiếng Ukraine. Tôi nhận thức rõ rằng tôi đang viết cho những độc giả mà tôi không có một chút hiểu biết nào và họ cũng chưa từng có cơ hội tìm hiểu tôi. 

Trong lời giới thiệu chắc chắn độc giả muốn tôi kể về quá trình sáng tác tác phẩm Trại Súc Vật, nhưng trước tiên tôi muốn tự kể về mình và những trải nghiệm đã dẫn tôi đến quan điểm chính trị hiện nay. 

Tôi sinh năm 1903 tại Ấn Độ. Lúc đó, cha tôi là một viên chức trong bộ máy hành chính Anh quốc ở đấy, gia đình tôi thuộc tầng lớp trung lưu, gồm các quân nhân, tu sĩ, viên chức chính phủ, giáo sư, luật sư, bác sĩ v.v... Tôi tốt nghiệp trung học tại Eton, một trường công lập thuộc loại đắt nhất nước Anh thời đó. Nhưng tôi được vào học ở đây là do được nhận học bổng, chứ cha tôi không thể có tiền để gửi tôi vào học những trường như thế. 

Ngay sau khi thôi học (lúc đó tôi chưa đủ 20 tuổi) tôi đi Miến Điện và tham gia lực lượng cảnh sát Hoàng gia tại đây. Tôi làm ở đó năm năm. Việc này hoàn toàn không hợp với tôi, tôi trở nên căm ghét chủ nghĩa đế quốc, mặc dù lúc đó tinh thần quốc gia ở Miến Điện chưa cao và quan hệ giữa người Anh và người Miến cũng chưa đến nỗi nào. Sau khi về lại Anh quốc vào năm 1927, tôi giải ngũ và bắt đầu viết văn: thời gian đầu không có thành công đáng kể nào. Trong những năm 1928-1929, tôi sống ở Paris, chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng không có nhà xuất bản nào chịu in (tôi đã xé bỏ hết). Những năm sau đó tôi phải tay làm hàm nhai, đôi khi phải nhịn đói. Chỉ từ năm 1934 tới nay tôi mới sống được bằng ngòi bút. Trong thời gian này, tôi đã sống nhiều tháng giữa những người nghèo khổ và bất hảo, ăn xin và ăn cắp tại những khu vực tồi tệ nhất của những khu phố nghèo. Lúc đầu tôi phải nhập bọn với họ vì không có tiền, nhưng sau này tôi lại rất thích lối sống đó. Tôi đã dành nhiều tháng trời để nghiên cứu đời sống thợ mỏ ở miền Bắc nước Anh. Cho đến năm 1930, nói chung, tôi vẫn chưa phải là người theo phái xã hội. Thực ra, tôi vẫn chưa xác định được quan điểm chính trị của mình. Tôi trở thành người theo trường phái xã hội vì căm thù cách người ta đàn áp và khinh thường tầng lớp công nhân công nghiệp nghèo khổ chứ không phải vì thán phục xã hội theo kế hoạch hoá về mặt về mặt lí luận. 

Tôi lập gia đình năm 1936. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra ngay trong những ngày đó. Hai vợ chồng tôi đều muốn đi Tây Ban Nha để chiến đấu cho chính phủ nước này. Chúng tôi sẵn sàng lên đường, sáu tháng sau đó, khi tôi viết xong cuốn sách mà tôi đã khởi sự từ trước. Tôi đã ở mặt trận Aragon gần Huesca sáu tháng liền, cho đến khi bị một phát đạn bắn tỉa xuyên qua cổ. 

Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, những người ngoại quốc hoàn toàn không hiểu được cuộc đấu tranh giữa các đảng phái ủng hộ chính phủ Tây Ban Nha. Do một loạt sự tình cờ, tôi không tham gia các Binh đoàn Quốc tế như đa số những người ngoại quốc khác mà chiến đấu trong hàng ngũ của lực lượng vũ trang POUM, đảng của những người theo phái Troskist Tây Ban Nha. 

Vì vậy, giữa năm 1947 khi những người Cộng sản nắm được quyền kiểm soát (hay một phần quyền kiểm soát) chính phủ Tây Ban Nha và bắt đầu săn đuổi những người Troskist thì cả hai vợ chồng tôi đều trở thành nạn nhân. Chúng tôi may mắn đi khỏi được Tây Ban Nha, thậm chí không bị bắt lần nào. Nhiều bạn bè của chúng tôi đã bị bắn bỏ, một số bị tù đày nhiều năm, số khác thì mất tích. 

Những cuộc săn người ở Tây Ban Nha xảy ra đồng thời với những cuộc thanh trừng vĩ đại ở Liên Xô. Thực chất những vụ thanh trừng ở Tây Ban Nha và ở Nga chỉ là một (gọi là âm mưu với bọn phát xít) và nếu nói về Tây Ban Nha thì tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đấy là những vụ kết án oan. Qua đó, tôi đã nhận được một bài học đắt giá: nó dạy tôi rằng bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị dễ dàng lèo lái dư luận ở những nước dân chủ đến mức nào. 

Hai vợ chồng tôi đã chứng kiến những người vô tội bị quẳng vào nhà giam chỉ vì họ bị nghi là không theo đường lối chính thống. Khi trở về Anh, chúng tôi thấy rất nhiều người thạo tin và nhạy bén tin vào những bản án kì quặc về âm mưu phản bội và phá hoại do báo chí tường thuật từ những vụ án ở Moscow. 

Và tôi thực sự hiểu ra ảnh hưởng tiêu cực của huyền thoại Xô viết đối với phong trào xã hội ở phương Tây. 

Đến đây tôi xin dừng lại một chút để trình bày thái độ của tôi đối với chế độ Xô viết. 

Tôi chưa đến thăm Nga bao giờ và hiểu biết của tôi về nước Nga chỉ là kiến thức do thu lượm được từ báo chí, sách vở. Ngay cả nếu có đủ sức tôi cũng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô: tôi sẽ không kết án Stalin và các cộng sự của ông ta chỉ vì những phương pháp dã man và phi dân chủ của họ. Có thể là trong những điều kiện như thế, dù có muốn, họ cũng không thể hành động khác được. 

Nhưng mặt khác, đối với tôi, điều cực kì quan trọng là nhân dân Tây Âu phải nhận rõ chế độ Xô viết như nó đang là. Từ năm 1930, tôi nhìn thấy rất ít bằng chứng là Liên Xô đang tiến đến cái có thể thực sự gọi là Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, có những chỉ dấu rõ ràng rằng xã hội ấy đang chuyển hoá thành xã hội có tôn ti trật tự và những người cầm quyền, cũng như mọi giai cấp cầm quyền khác, chẳng thấy có lí do gì để rời bỏ quyền lực, đã làm tôi choáng váng. Hơn nữa, công nhân và trí thức ở những nước như Anh quốc lại không hiểu rằng Liên Xô hôm nay đã khác hẳn Liên Xô năm 1917. Một phần vì họ không chịu hiểu (nghĩa là họ muốn tin rằng có một nước xã hội chủ nghĩa quả thực đang tồn tại ở đâu đó), một phần vì họ quen với cuộc sống tự do và ôn hoà, họ không biết gì về chủ nghĩa toàn trị. 

Cần phải nhớ rằng nước Anh chưa phải là nước hoàn toàn dân chủ. Đây vẫn là nước tư bản với những đặc quyền đặc lợi giai cấp (ngay cả bây giờ, sau cuộc chiến tranh có xu hướng làm cho mọi người bình đẳng hơn) và sự chênh lệch gay gắt về tài sản. Nhưng dù sao, ở đây người dân đã có cuộc sống không có những xáo trộn lớn suốt mấy trăm năm qua, luật pháp tương đối công chính, tin tức và số liệu của chính quyền có thể tin được và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là người ta có thể giữ và ủng hộ quan điểm của thiểu số mà không bị bất kì đe dọa chết người nào. Trong hoàn cảnh như vậy người ta không thể nào hiểu được những hiện tượng như trại tập trung, cưỡng ép di cư hàng lọat, bỏ tù không cần xét xử, kiểm duyệt báo chí v.v... Tất cả những điều đọc được trên báo chí về những nước như Liên Xô được tự động phiên dịch sang các thuật ngữ của nước Anh và họ ngây thơ tin ngay những điều dối trá của bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị đó. Cho đến năm 1939, và cả sau này nữa, đa số người Anh không hiểu được thực chất chế độ phát-xít ở Đức và nay họ cũng có ảo tưởng tương tự như vậy đối với Liên Xô. 

Điều đó đặc biệt có hại đối với phong trào Xã hội Anh và gây hậu quả xấu đối với chính sách đối ngoại của nước Anh. Theo tôi, tin rằng nước Nga là nước xã hội chủ nghĩa và mọi hành vi của những người cầm quyền ở đó đều nên được tha thứ, nếu không nói là phải theo, là sự phản bội đối với lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong mười năm gần đây tôi đã đi đến kết luận rằng phá tan huyền thoại Xô viết là việc làm vô cùng cần thiết, nếu ta muốn tái sinh phong trào xã hội chủ nghĩa. 

Ngay sau khi trở về từ Tây Ban Nha tôi đã nghĩ đến việc vạch trần huyền thoại Xô viết dưới dạng một câu chuyện dễ hiểu và dễ dịch sang các thứ tiếng khác. Nhưng chi tiết của câu chuyện vẫn chưa có, cho đến một hôm (khi đó tôi sống ở nông thôn) tôi trông thấy một cậu bé, khoảng mười tuổi, đang đánh một chiếc xe ngựa to trên một con đường hẹp, cứ mỗi lần con ngựa định quay ngang là cậu bé lại ra roi. Trong đầu tôi bỗng loé lên ý nghĩ rằng nếu loài vật nhận thức được sức mạnh của chúng thì con người không thể nào còn điều khiển được chúng nữa và con người bóc lột loài vật cũng hệt như các tầng lớp hữu sản bóc lột giai cấp vô sản vậy. 

Tôi tiến hành phân tích học thuyết của Marx trên quan điểm của súc vật. Đối với loài vật thì rõ ràng là luận điểm về đấu tranh giai cấp giữa người với người chỉ là một sự lừa mị, vì mỗi khi cần bóc lột súc vật là tất cả mọi người lại đoàn kết với nhau để chống lại chúng: cuộc đấu tranh thực sự là cuộc đấu tranh giữa loài vật và loài người. Từ đây việc tạo ra tác phẩm không còn khó nữa. Tôi bận nhiều việc khác, không có thì giờ, cho nên mãi đến năm 1943 tôi vẫn chưa bắt đầu viết truyện này và cuối cùng tôi đã đưa thêm một số sự kiện, thí dụ như Hội nghị Teheran là sự kiện xảy ra trong thời gian tôi viết. Như vậy là đường hướng chính của câu chuyện đã nằm trong đầu tôi suốt sáu năm, trước khi tôi thực sự đưa nó lên mặt giấy. 

Tôi không có ý bình luận tác phẩm, nếu tác phẩm không có sức thuyết phục thì có nghĩa là tác phẩm ấy đã thất bại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai điểm: thứ nhất, mặc dù nhiều tình tiết được lấy từ lịch sử của cuộc Cách mạng Nga, nhưng chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và trật tự đã được thay đổi cho cân đối với cốt truyện. Điểm thứ hai thường bị các nhà phê bình bỏ qua, nguyên nhân có thể là vì tôi chưa nhấn đúng mức. Nhiều độc giả sau khi đọc xong có cảm tưởng rằng cuốn sách đã dừng lại ở sự hoà giải hoàn toàn giữa loài lợn và loài người. Nhưng đấy không phải là ý của tôi, ngược lại, tôi cố ý kết thúc ở chỗ chỉ rõ sự bất hoà, vì tôi viết chuyện này ngay sau Hội nghị Teheran, mọi người lúc đó đều nghĩ rằng Hội nghị này sẽ thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể có giữa Liên Xô và phương Tây. Cá nhân tôi không tin rằng quan hệ tốt đẹp đó có thể kéo dài được lâu, và như các sự kiện cho thấy, tôi đã không lầm. 

Tôi không biết phải nói gì thêm nữa. Nếu độc giả nào quan tâm đến cá nhân tôi thì tôi xin nói thêm rằng tôi đã goá vợ, hiện tôi đang sống với con trai ba tuổi, tôi là nhà văn chuyên nghiệp, nhưng từ khi bắt đầu cuộc chiến thì tôi làm việc chủ yếu như một phóng viên. 

Tôi thường viết cho tờ Tribune, một tờ tuần báo đại diện cho phái tả của đảng Lao động. Những cuốn sách sau đây của tôi có thể được độc giả quan tâm: Những ngày ở Miến điện (câu chuyện về Miến điện), Tưởng nhớ Catalonia (viết về những trải nghiệm của tôi trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha) và tác phẩm Phê bình (các bài viết về văn học đương đại Anh, được viết chủ yếu từ quan điểm xã hội học hơn là quan điểm thuần tuý văn chương). 

1947 




Chương I 

Ông Jones, chủ Điền Trang đóng cửa chuồng gà, nhưng vì say quá nên quên đóng cửa chuồng lợn. Với chiếc đèn bão trong tay, đung đưa, khi sang phải, khi sang trái, ông lảo đảo đi qua sân, tới cửa sau thì lấy chân đạp ủng ra và bước vào bếp để uống nốt vại bia cuối cùng trong ngày rồi leo lên giường, nơi vợ ông, bà Jones đã ngáy khò khò. 

Ngay khi đèn trong phòng ngủ vừa tắt, đây đó bỗng dậy lên những tiếng sột soạt, thì thầm. Ngày hôm đó có tin đồn rằng Thủ Lĩnh, một con lợn đực trắng, từng được huy chương trong một cuộc triển lãm, đêm hôm trước có một giấc mơ kì lạ và muốn kể cho mọi loài cùng nghe. Chúng thoả thuận với nhau là ngay sau khi ông Jones đi ngủ thì sẽ tập trung trong nhà kho lớn. Tất cả các con vật trong trang trại đều kính trọng Thủ Lĩnh (chúng gọi nó như vậy, mặc dù khi đi dự triển lãm nó có tên là Willingdon Điển Trai) và sẵn sàng hi sinh giấc ngủ để được nghe nó nói chuyện. 

Thursday, 6 December 2012

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Căm pu chia 1975-1991

Khoảng năm 2008 đã đọc Hồi ký của Trần Quang Cơ, viết về quan hệ Việt-Trung, có liên quan đến Căm pu chia (xem dưới đây), gần đây lại đọc Hồi ký của Trương Đức Duy () - cựu Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, thấy cũng khá trùng khớp với những gì mà Hồi ký Trần Quang Cơ ghi lại, hơn nữa giọng điệu của Trương cũng không quá ngạo mạn nước lớn như thường thấy trong các bài viết tương tự của Tàu, nên cũng lưu lại đây. Cho đến gần đây nhất, có tài liệu của Huỳnh Anh Dũng, về cùng chủ đề quan hệ Việt Nam - Căm pu chia trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, nên đăng cả ở đây cho đầy đủ, dễ tìm kiếm về sau

Cả ở Hồi kỳ của Trần Quang Cơ và ghi chép của Huỳnh Anh Dũng đều có những lời sau của Lê Đức Anh "nhận lỗi" trước một Thứ trưởng Ngoại giao của Trung Quốc, thấy thật sai lầm và sỉ nhục.


Lê Đức Anh có buổi gặp với Từ Đôn Tín chiều 29/7/1991 tại Điếu Ngư Đài , đ/c Lê Đức Anh nói: "Năm ngoái khi đ/c Từ Đôn Tín sang VN đã xảy ra một số trục trặc không hay lắm, do phía chúng tôi gây ra. Đ/c Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Đ/c thay mặt chính phủ  TQ sang VN để cùng chúng tôi thảo luận giải quyết công việc nhưng lại để xẩy ra trục trặc, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đ/c tôi nói tình cảm của đ/c Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi. Mong rằng sau này không xảy ra những trục trặc như thế nữa... Tình hình trục trặc trong quan hệ nước là một việc đau, lòng... Tôi đồng ý là không nên nêu vấn đề diệt chủng. Tôi cũng đã nói nhiều lần với đ/c Heng Somrin và Hun Sen."



Monday, 8 October 2012

Nguyên Ngọc Vẫn trên đường xa (2)

Hôm trước đã viết mấy dòng nhân quyển sách mới ra Nguyên Ngọc Vẫn trên đường xa, có đề cập đến bài của Phạm Vĩnh Cư, thì nay đã thấy có bài đăng trên mạng, nên đưa luôn về đây cho tiộn theo dõi.
,

Mấy kỷ niệm khó quên với một chân nhân

(Trái hay Phải)-Tôi có cảm giác khi nói thế, anh nghĩ đến cả cái hành trang còn cần được bổ sung nhiều của mình, và điều khiến tôi thêm mến phục anh là trong những năm sau đấy, anh đã tự trang bị cho mình ngày càng nhiều kiến thức mới, nhận thức mới.
                                           
Lần đầu tiên tôi gặp anh Nguyên Ngọc vào mùa đông cuối năm 1957 ở Moskva. Cùng với bốn thành viên khác trong đoàn nhà văn Việt Nam sang thăm Liên Xô anh đến với chúng tôi – một trăm thiếu nhi Việt Nam có hạnh phúc được sống và học tập ở trung tâm của thành trì cách mạng thế giới và hòa bình thế giới.
Hồi ấy tôi đã mười lăm tuổi, đã thông thạo tiếng Nga và đang mê say với những “Evgeni Onegin”, “Một nhân vật anh hùng của thời đại chúng ta”, “Những linh hồn chết”, “Chiến tranh và hòa bình”…
Theo dõi thời sự văn học trong nước, tôi không thể không để ý đến tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của nhà văn trẻ Nguyên Ngọc đang được dư luận chúng khẩu đồng từ khen ngợi. Và cuốn sách ấy cùng với một số tác phẩm mới đang gây tiếng vang trong nước đã sớm đến tay chúng tôi.
Tôi nhớ ấn tượng đầu tiên sau khi đọc xong nó (cái này sẽ lặp lại nhiều lần trong cuộc đời độc giả của tôi): tốt đấy (nhất là hành văn) nhưng còn xa mới được như tôi chờ đợi. Có cái gì đó giản đơn, lạc quan đến nhẹ dạ, suy luận một chiều thẳng tuột, khác quá đi với những trải nghiệm về cuộc sống chưa phong phú nhưng đã sắc nét nơi tôi.
Cái cuộc sống ấy, trải ra trước mắt tôi ngay ở cái thiên đường xã hội chủ nghĩa này – chao ôi, sao nó phức tạp, rối rắm, đầy mâu thuẫn nội tại, những con người xung quanh và bản thân tôi sao bất toàn khó sửa chữa đến tệ hại.
Từ đó mà tôi thấy thật khó tin tưởng sắt đá vào tương lai một màu xán lạn của dân tộc, nhân loại và từng cá nhân con người mà sách báo và nhà trường dạy chúng tôi tin. Đọc văn học nước ngoài, cổ điển cũng như hiện đại, tôi thấy các tác giả lớn đều củng cố và khơi sâu trong tôi một nhận thức như vậy về nhân thế.
Thành thử tôi không thể thỏa mãn với “Đất nước đứng lên” cũng như “Vùng mỏ”, “Con trâu”, “Truyện anh Lục”… cũng dạy bảo tôi rằng chỉ cần đánh đuổi giặc ngoại xâm và xóa bỏ các giai cấp bóc lột tức thì nước Việt Nam ta sẽ trở nên hùng mạnh, người Việt ta sẽ được ấm no, hạnh phúc đời đời.

Friday, 28 September 2012

DŨNG LÒ VÔI

Nghe danh Dũng Lò vôi đã lâu, và thỉnh thoảng đọc được đâu đó về nhân vật này, biết chàng khởi nghiệp từ tỉnh Bình Dương nhà bác Triết, nhưng nay đọc bài này của Minh Diện từ trang Lê Thiếu Nhơn thì hiểu rõ hơn về con người thay đổi cả tên lẫn vợ này. Khi nghe danh từ trước mình đã không bao giờ định thăm Đại Nam Văn Hiến vì những cái lố bịch mìng nghe được, nay đọc bài này thì thề luôn là nếu khi nào có dịp ghé Bình Dương cũng không bao giờ vào đây (cũng như một nơi buôn thần bán thánh khác khá là "hot" ở xứ Bắc). Cách đây không lâu mình tưởng giới doanh nhân mới len vào chính trường trong thời gian gần đây, nhưng khi tìm hiểu về Dũng Lò vôi mới thấy Dũng còn đi trước các ông nghị Tâm, Yến từ lău rồi.


Kỳ nhân HUỲNH UY DŨNG


Mỗi đêm Huỳnh Uy Dũng làm hàng chục bài thơ nhập đồng và cho in dán khắp nơi trong văn phòng công ty. Huỳnh Uy Dũng tuyển chọn  một  tập thơ “Tâm Linh” cho Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành và tuyên bố rằng: “Tôi thách các nhà thơ Việt Nam làm được thơ hay như thơ tôi”. Xin trích bốn câu thơ “tuyệt tác” của ông chủ khu du lịch Đại Nam Văn Hiến lừng lẫy với bút danh Huỳnh Công: “Về thăm Văn Hiến Quạt Mo. Thằng Bờm không đổi dù cho ba bè. Phú ông chớ ỉ giàu nghe. Quạt Mo không đổi ba bè gỗ lim”. Ngoài làm thơ tâm linh, Huỳnh Phi Dũng còn sáng tác kinh Phật mới, quốc ca mới và đặc biệt có khả năng  gọi mưa ngăn bão…




KỲ NHÂN HUỲNH UY DŨNG

MINH DIỆN

Mười sáu năm trước. Tôi nhận được lá thư bạn đọc phản ảnh việc Huỳnh Phi Dũng, giám đốc công ty Thanh Lễ lấy tiền nhà nước về quê làm đường với danh nghĩa cá nhân, nên tìm đến Bình Dương gặp Dũng để tìm hiểu sự thật. Khi nghe tôi nói nội dung bạn đọc, Dũng cười không nói gì, rồi bỏ vào phòng trong... Khoảng ba bốn phút sau Dũng quay ra pha bình trà mới và nói chuyện tiếu lâm, chẳng hề quan tâm đến việc tôi vừa hỏi
          Bỗng một chiếc xe du lịch xuất hiện trước sân và đồng chí Nguyễn Minh Triết - Bí thư tỉnh ủy Bình Dương (sau này là Chủ tịch nước) xuất hiện, tôi và Huỳnh Phi Dũng vội vã ra chào đón. Đồng chí Nguyễn Minh Triết tên thân mật là Sáu Phong, nguyên Bí thư Trung ương đoàn, thủ trưởng cũ của tôi.
          Tôi tưởng hôm nay tình cờ gặp  thủ trưởng cũ, nhưng không phải, anh Sáu Phong tới đây là do cú điện thoại của Huỳnh Phi Dũng lúc bỏ vào phòng trong.

Thursday, 27 September 2012

Dương Kỳ Anh aka Dương Xuân Nam


Còn đây chính là chân dung cũa nhà ..., nhà ..., nhà ... DƯƠNG KỲ ANH aka DƯƠNG XUÂN NAM, cũng dưới góc nhìn của Minh Diện qua trang Lê Thiếu Nhơn.



DƯƠNG KỲ ANH có tài ẩn mình thoát qua tai họa


Nhà báo Minh Diện băn khoăn: “Là người trực tiếp tung hô hiện tượng “tiền nhân mượn bút”, nhưng khi mọi sự vỡ lỡ thì Dương Kỳ Anh lại chối bay chối biến như một người vô can. Hành vi ấy có đáng mặt một kẻ cầm bút từng được coi là “quan báo” không? Ai có thể  ngạc nhiên, còn tôi thì không bởi tôi  biết khá rõ nhà thơ, nhà báo Dương Kỳ Anh, tức Dương Xuân Nam - người đã làm Tổng biên tập báo Tiền Phong 21 năm 6 tháng 21 ngày và Trưởng ban tổ chức kiêm Trưởng ban giám khảo các cuộc thi Hoa Hậu Việt Nam liên tục nhiều năm, kể cả lần trao vương miện Hoa hậu cho một cô gái chưa có bằng Tú tài. Tôi  xin kể hai mẩu chuyện dưới đây để chứng minh điều đó”.



DƯƠNG KỲ ANH CÓ TÀI ẨN MÌNH THOÁT QUA TAI HỌA  

                                                                                        
 MINH DIỆN

                     I- 
Năm 1989, nạn video đen bùng phát  tại thành phố Hồ Chí Minh mà  điểm nóng nhất là khu vực quận Gò Vấp. Báo Tuổi Trẻ có phóng sự “Xóm video đen” gây tiếng vang… Tổng biên tập Dương Xuân Nam lồng lộn  vì ghen tức, ngày nào cũng hối thúc Ban đại diện ở phía Nam phải có bài về video đen.
                        Bấy giờ có một sỹ quan quân đội tên là Nhân chiếu phim “con heo” bị quân đội khởi tố đang trong vòng điếu tra, báo chí chưa được tiếp cân. Tôi được thượng tá Nguyễn Danh Giang là bạn thân khi ở Ban tuyên huấn Bộ tư lênh công binh miền, kể cho nghe chuyện đó.  Tôi đã lấy mẫu nhân vật  này viết một tiểu phẩm với nhan đề một “Một vụ án đau xót”. Nội dung  kể về một thiếu tá  đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, thì vợ tại Sài Gòn cho thuê nhà mở dịch vụ video đen. Tình cờ trở về bắt gặp  chính con mình đang  làm trò “con heo” như trong phim, anh thiếu tá  tức giận  rút súng bắn vào cái ti vi làm nó  nổ tung và con mình bị thương…
                         Tôi viết tiểu phẩm đó với ý thức rằng, cái xấu cái ác  luôn rình rập và len lỏi vào mọi nơi, và  chỉ có người lính mới tiêu diệt  được cái xấu, cái ác dù nó dấu mặt ở đâu. Tôi đã đổi tên nhân vật là Nguyễn Văn Nhồng và chọn hình thức tiểu phẩm để được hư cấu một phần câu chuyện..
                          Tôi viết  6 trang đánh máy, có ghi chú thể loại “Tiểu phẩm” đàng hoàng, và gửi ra Tòa soạn Hà Nội. Ông Dương Kỳ Anh biên tập lại chỉ còn 3 trang và tai hại hơn là  cắt béng đi cái tiêu đề “tiểu phẩm” , biến một mẩu chuyện có hư cấu  thành một bài báo chính luận - một thể loại  tuyệt đối không được phép hư cấu.  Bài báo đăng lên làm xôn xao dư luận. Ông Nam hoan hỉ: “Nó làm mờ  phóng sự  “Xóm video đen” của báo Tuổi Trẻ…”
                      Nhưng vì bài báo đó mà Quân khu 7 đã  khởi tố tôi về tội vu khống. Nguyên Tổng biên tập báo Tiền Phong - Đinh Văn Nam và phó Tổng biên tập báo Tiền Phong - Lương Ngọc Bộ  biết tôi oan, nên hết sức bảo vệ. Đặc biệt, Anh hùng quân đội Trịnh Tố Tâm - Bí thư Trung ương Đoàn đã đến tận nhà  nói với vợ tôi:  “Em yên tâm, thằng Diện mà phải ở tù thì anh ở tù thay cho !”.
                      Trong khi đó Dương Kỳ Anh chỉ sợ tôi khai bất lợi cho ông ta. Mặc dù tôi đã nói sẽ không làm liên lụy đến ai, nhưng Dương Kỳ Anh vẫn không yên tâm. Ông ta gửi trả lại tôi chiếc máy ghi âm nhỏ xíu mà ngày đó báo Tiền Phong chỉ mình tôi có. Đó là chiếc máy tôi đã ghi âm những cuộc trao đổi giữa tôi với Dương Xuân Nam về bài báo kia. Khi tôi kiểm tra thì toàn bộ băng ghi âm đã bị xóa....