Showing posts with label Nguyễn Cơ Thạch. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Cơ Thạch. Show all posts

Sunday, 26 August 2018

HỒI KÝ TỐNG VĂN CÔNG (57)

Từ theo cộng đến chống cộng (57): Hầu chuyện Trần Xuân Bách



Cuối tháng 9 năm 1989, tôi từ Sài Gòn ra, vừa đến trụ sở báo Lao Động (51 Hàng Bồ, Hà Nội) thì cô Phạm Thị Châu, trưởng phòng hành chính đến gặp. Cô trao tấm danh thiếp của anh Trần Xuân Bách gửi cho tôi và háo hức kể: Xe đỗ trước cơ quan, bác ấy đi vào, nói “tôi xin gặp anh Tống Văn Công”. Em trả lời: “Thưa bác, anh Công về Sài Gòn. Hiện đang có mặt hai phó tổng biên tập là anh Huy Đan và Phạm Văn Nhàn. Bác có thể gặp anh nào ạ?” Bác ấy mở cặp lấy danh thiếp đưa cho em, nói: “Khi nào anh Công ra, đồng chí đưa giùm tôi nhé, nói là tôi đang đợi anh ấy gọi”. Từ lâu tôi đã được ba người bạn có dịp gần gũi anh Trần Xuân Bách là nhà văn Nguyễn Khải gần anh khi còn làm báo quân khu 3 thời chống Pháp, dịch giả Lê Minh Đức gần anh ở ban Dân vận Trung ương và anh Đinh Gia Bảy ủy viên Ban Thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từng làm việc dưới quyền của anh Bách lúc giúp bạn ở Campuchia, kể nhiều chuyện về anh Bách, “một người tài đức song toàn”. Tôi cũng được đọc nhiều bài viết của anh, rất hâm mộ, nhưng chưa có dịp gặp, không ngờ tôi lại được anh tìm! Trước khi vào Sài Gòn, tôi đã dự hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (Khóa 6), nên cảm nhận việc anh Trần Xuân Bách đến tìm là điều quan trọng.
Xin nhắc lại một kết luận của Nghị quyết trung ương 7:
Về tình hình thế giới:
Công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu nhất định, nhưng ở một số nước gặp khó khăn gay gắt, có nước chủ nghĩa xã hội đang đứng trước thách thức lớn. Lợi dụng tình hình khó khăn trên đây ở một số nước xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ mở cuộc phản kích quyết liệt vào chủ nghĩa xã hội, bằng những thủ đoạn rất xảo quyệt: Răn đe về quân sự; cổ vũ chủ nghĩa đa nguyên chính trị; dùng kinh tế khuyến khích việc cải cách theo hướng phát triển kinh tế tư nhân, thị trường tự do tư bản chủ nghĩa.
Tình hình trong nước:
Những khó khăn về kinh tế và xã hội đã và đang bắt đầu xuất hiện ở nước ta, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: các lực lượng bên ngoài đang tập trung đả kích, xuyên tạc Đảng ta không mạnh dạn cải cách chính trị, hạn chế dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tự do sáng tác, phê bình.
Trong bốn khuyết điểm dẫn đến tình hình trên, có:”Buông lỏng công tác tư tưởng, thiếu tinh thần chiến đấu chống những tư tưởng, quan điểm lệch lạc, những hành động và lời nói sai trái.
Nghị quyết nhấn mạnh những nguyên tắc của chính sách: Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị.
Như vậy, anh Trần Xuân Bách đang là nhân vật có “vấn đề”!
Sau khi cô Châu rời khỏi phòng, tôi gọi điện ngay cho anh Trần Xuân Bách. Giọng anh rất vui: “Bảy giờ tối, tôi đợi anh nhé”. Tôi đáp: “Tôi muốn cùng anh Phạm Văn Nhàn phó tổng biên tập đến thăm anh?” Anh Bách rất vui vẻ: “Ồ, càng nhiều anh em càng vui”.
Tôi không muốn một mình đến anh Bách vì đã có kinh nghiệm qua việc nhà văn Nguyên Ngọc gửi bài cho báo, tôi chưa đọc, nhưng cơ quan an ninh đã cử cán bộ đến yêu cầu được đọc trước! Tôi kể chuyện này với phó tổng biên tập Phạm Văn Nhàn (hiện nay, anh Nhàn ở khu nhà tập thể báo Lao Động, quận Cầu Giấy). Anh Nhàn nói: “Anh ấy bảo càng nhiều anh em càng vui, vậy ta rủ thêm Lưu Văn Hân, vì Hân quen thân với bên vợ anh Bách”. Tôi gọi điện rủ, anh Hân rất vui vẻ nhận lời (anh Lưu Văn Hân lúc ấy là Vụ trưởng Vụ báo chí, Bộ Văn hóa Thông tin, anh Trần Hoàn là bộ trưởng).
Ba chúng tôi đến biệt thự của anh Bách trên đường Phan Đình Phùng bằng chiếc u-oat của báo Lao Động do tài xế cựu chiến binh Nguyễn Văn Tiến lái. Có vài người mặc thường phục đứng trên vỉa hè dòm ngó. Tôi bảo với người bảo vệ là chúng tôi được anh Bách hẹn. Anh bảo về gọi điện thoại vào nhà xin ý kiến. Tôi cứ tưởng anh Bách sẽ cho người giúp việc ra đón chúng tôi, không ngờ anh đích thân chạy ra cổng. Tôi nói “chúng tôi đến quá một người!” Anh Bách cười vui “cảm ơn các anh, tôi rất vui!” Anh đưa chúng tôi lên lầu. Chị Bách chờ sẵn, mời chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn kê sát tường. Chị pha cà phê, gọt táo và cùng ngồi với chồng tiếp khách. Thấy bên cạnh tấm lịch treo tường có kẹp bài thơ, ký tên Bách Xuân, tôi hỏi đùa: “Muốn xin anh bài thơ này đăng trang văn nghệ của báo?” Anh nhìn chị, cười đáp: “Thơ mình chỉ dành riêng cho một bạn đọc này thôi”. Có lẽ, chị Bách nghĩ rằng mấy ông khách thấy chị quá trẻ so với anh, nên đã vui vẻ kể: “Hồi em mới lấy anh ấy, các bạn cứ trêu, sao lấy ông chồng quá đát vậy? Em trả lời, nhưng tâm hồn anh ấy rất trẻ!” Sau mấy chuyện vui, tôi kể cho anh Bách nghe về lớp nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 7 của cán bộ cốt cán toàn quốc trước đây hơn một tuần. Anh Bách nghe rất chăm chú.
Lớp nghiên cứu này do ông Đào Duy Tùng ủy viên Bộ Chính trị phụ trách khối tư tưởng văn hóa thuyết trình. Ông nghe phản ánh ý kiến học viên ở các tổ thảo luận, tổng kết đợt học và giải đáp thắc mắc. Sau khi nghe ông Tùng giảng ở hội trường, ban tổ chức lớp học chia học viên theo ngành công tác vào các tổ thảo luận. Tôi dự thảo luận ở tổ báo chí, gồm các tổng biên tập, báo chí, đài, nhà xuất bản ở trung ương (có lẽ các tổ viên ngày ấy chỉ mỗi nhà thơ Hữu Thỉnh còn có mặt trong guồng máy hiện hành). Tổ trưởng hướng dẫn thảo luận là anh Thái Ninh, phó trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (đến Đại hội 7, anh Thái Ninh là trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, anh Hữu Thọ phó trưởng ban thường trực). Khi thảo luận câu hỏi “Vì sao Đảng ta không chấp nhận đa nguyên chính trị”, anh Bùi Tín, phó tổng biên tập Báo Nhân Dân xin phát biểu. Bùi Tín cho biết, anh rất lúng túng khi bị nhiều đồng chí đảng viên các đảng bạn ở Phương Tây hỏi vì sao đảng Cộng sản Việt Nam lại không chấp nhận đa nguyên. Theo Bùi Tín, bản chất cuộc sống là đa nguyên, thực tế Việt Nam cũng đang có những yêu tố đa nguyên: bên cạnh đảng Cộng sản có đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội; Mặt trận Tổ quốc gồm có nhiều tổ chức Nông dân, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ… mỗi giới có tờ báo nói tiếng nói của mình. Phải đa nguyên mới thực sự dân chủ. Anh Bùi Tín nói hơn 30 phút. Cả tổ im lặng lắng nghe. Tổ trưởng Thái Ninh ghi ghi chép chép, không tỏ ra sốt ruột. Không ngờ hôm sau, khi tổng kết và trả lời thắc mắc, ông Đào Duy Tùng đã gay gắt phê phán: “Thật đáng chê trách, tại hội nghị này, gồm những cán bộ tuyên huấn cốt cán của Đảng, lại có một đồng chí nồng nhiệt cổ vũ đa nguyên chính trị! Đồng chí đó không biết rằng, đa nguyên là luận điệu mị dân của các chính trị gia tư sản? Bọn chúng gồm những tập đoàn tài phiệt, cần có đa nguyên để cạnh tranh với nhau. Giai cấp công nhân có sứ mệnh độc quyền lãnh đạo cách mạng, chỉ cần liên minh chiến lược với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức cách mạng. Chủ nghĩa xã hội thực hiện tập trung dân chủ, phải chống đa nguyên. Hôm nay đòi đa nguyên, rồi ngày mai sẽ đòi đa đảng, phải không?”
Anh Bách trầm ngâm, rồi nói: “chúng ta đã thực hiện đa nguyên kinh tế, vậy phải thực hiện đa nguyên chính trị, bước tới bằng hai chân mới cân bằng, không bị vấp váp”. Anh hỏi thêm về Bùi Tín, nhưng tôi chỉ gặp anh Bùi Tín hai lần mà cả hai lần đều cùng là khách được mời ăn cơm. Lần đầu tháng năm 1975, ở Sài Gòn anh Phước Sanh cán bộ báo Quân đội Nhân dân mời dự bữa cơm có sếp của anh là phó tổng biên tập Bùi Tín; lần thứ hai ở Hà Nội, nhà thơ Hải Như mời Bùi Tín, bác sĩ Vân (B) và tôi, chỉ ít lâu trước khi anh Bùi Tín đi họp báo Nhân đạo và ở lại Pháp. Lúc ông Đào Duy Tùng chì chiết anh Bùi Tín, tôi ngồi ở hàng ghế ngay sau lưng anh.
Hơn 10 giờ khuya, anh Bách tiễn chúng tôi ra tận cổng. Trước khi chia tay, tôi đề nghị: bất cứ lúc nào, anh rảnh, tôi xin mời anh đến nơi tôi ở, số 14 Trần Bình Trọng, đối diện với Bộ Công an. Tôi muốn được anh giải đáp cho một số câu hỏi. Và tôi gợi ý: Anh nên cho dừng xe ở Nguyễn Du, rồi đi bộ vào cổng, tôi sẽ đón bên trong. Kể ra cũng buồn cười, đón ông ủy viên Bộ Chính trị mà phải lén lút như quan hệ với kẻ gian! Hồi đó, tôi vẫn nghĩ nơi ở của mình kín đáo lắm, nên đã từng tiếp đón nhiều bạn bè có lý lịch mà phía an ninh coi là không được trong sáng như Nguyễn Kiến Giang, Lê Đạt, Dương Tường, Phạm Thị Hoài… mãi sau này, tôi mới biết là mọi việc xảy ra ở báo Lao Động đều có trong hồ sơ của cơ quan an ninh! Biết đâu chuyện tôi sắp kể ra đây cũng không phải là ngoại lệ!
Chỉ vài hôm sau, anh Bách hẹn đến, từ hôm đó tôi may mắn được hầu chuyện anh. Tôi đã đặt những câu hỏi với tư cách một nhà báo mong muốn tìm thấy lộ trình đi tới tự do dân chủ cho dân tộc. Rất tiếc vì nhiều lý do, ý kiến tâm huyết của anh, một nhà cách mạng, một trí thức lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam mà tôi ghi chép nhiều buổi, đã không thể phổ biến đúng lúc. Lý do là vì nền “báo chí nói tiếng nói của Đảng” không cho phép, nhưng lý do chính mà tôi phải nhận là bởi sự hèn kém của mình. Phần hồi ức này, tôi xin ghi lại một số câu hỏi và giải đáp của anh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà nó vẫn đang còn nguyên giá trị thời sự trong tình hình hiểm nghèo của đất nước trước họa ngoại xâm, và nội xâm, đang rất cần dân chủ hóa để tăng nội lực của dân tộc. Và đây cũng là món nợ ân tình đối với anh, nhiều năm nay lòng tôi luôn bứt rứt.
Hỏi: Tháng 6 năm 1988, Nghị quyết Trung ương 5 cho rằng khuyết điểm nghiêm trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng là “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nghị quyết cho rằng “mở rộng dân chủ, đi đôi với tăng cường kỷ luật”, và phải “chống những mưu đồ lợi dụng dân chủ và công khai để chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân”. Đến tháng ba năm 1989, Nghị quyết Trung ương 6 nhắc lại phải “mở rộng dân chủ, dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật”. Tháng tám năm 1989, Nghị quyết Trung ương 7 kết luận: “Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị”.
Những kết luận nói trên, cho thấy “dân chủ” như một khái niệm rất mơ hồ, có thể thu hẹp lại, hoặc mở rộng ra. Nhưng mở rộng ra thì phải kèm với “tập trung”, với “kỷ luật”, nếu không thì sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ, hoặc bị bọn phản động có “mưu đồ lợi dụng dân chủ, công khai, chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân?”
Đáp: Dân chủ không hề có chỗ cho thứ tự do vô chính phủ nảy nở. Chế độ dân chủ thiết lập trên cơ sở một bản hiến pháp được xây dựng từ ý chí tự do của nhân dân lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Hiến pháp quy định thể thức bảo đảm tổng tuyển cử tự do, không phân biệt khuynh hướng chính trị, quy định cách thức hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo đảm các quyền tự do của con người và sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu tuyên ngôn độc lập nước ta, đã nhắc lại tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nói đến các quyền tự do của con người mà tạo hóa cho họ. Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do ấy. Cho nên dân chủ là quyền lực của dân, với tư cách là con người tự do. Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn bạn ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng, thấy bất tiện thì thu hẹp.
Đại hội 6 kết luận lấy “dân làm gốc”. Dân chủ sẽ khởi động trí tuệ toàn dân tộc, “gốc” sẽ ngày càng vững mạnh, ngăn chặn quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm. Chế độ dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng, bè phái. Chỉ có chế độ độc đoán, quan liêu, khép kín mới là rất tốt cho những kẻ xấu làm dụng quyền lực làm những điều phi pháp.
Hỏi: Chế độ dân chủ như vừa miêu tả ở trên có trái với “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà Nghị quyết Trung ương 7 kêu gọi xây dựng và phát huy?
Đáp: Chúng ta đã chọn mô hình giáo điều, lai ghép chủ nghĩa xã hội Stalin với chủ nghĩa xã hội Mao Trạch Đông. Liên Xô và các nước Đông Âu đang lâm vào khủng hoảng bởi mô hình Stalin, vi phạm dân chủ, duy ý chí, quan liêu, đặc quyền, đặc lợi. Thế giới xã hội chủ nghĩa phải cải tổ, đổi mới, giải quyết những mâu thuẫn, phá vỡ cái cũ, đạt tới các tiêu chí của thời đại là: dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại. Xu thế chủ yếu là chuyển sang sở hữu tư nhân, kinh tế hàng hóa, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.
Chúng ta đã đổi mới kinh tế, thực hiện sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường. Đã đến lúc phải đổi mới chính trị, dân chủ hóa xã hội, từng bước thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà Marx và Engels đã đề ra trong tuyên ngôn Cộng sản: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.
Không đổi mới chính trị nhịp nhàng với đổi mới kinh tế thì đến một lúc nào đó sự phát triển kinh tế cũng sẽ bị chựng lại, bởi những rào cản quan liêu, tham nhũng, hạn chế sáng kiến. Đổi mới kinh tế là thực hiện đa nguyên kinh tế, kinh tế nhiều thành phần sẽ làm cho xã hội có sự phân tầng, mỗi giai tầng có quyền lợi, nguyện vọng khác nhau, từ đó nảy sinh đa nguyên chính trị. Đổi mới chính trị là từng bước chấp nhận đa nguyên chính trị song song với đa nguyên kinh tế, đúng như Marx, Engels: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của ấy”. (Lời tựa cho tuyên ngôn của đảng Cộng sản bản tiếng Đức, 28-6-1883).
Từ một xã hội khép kín, một quốc gia đóng cửa, chúng ta khởi xướng đổi mới, mở cửa, làm bạn với tất cả các nước. Vậy thì trong nước cũng phải là một xã hội mở, chấp nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhiều tiếng nói có quan điểm khác biệt đối thoại, thương thảo, quyết định thuộc về đa số, nhưng thiểu số được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người và quyền công dân theo hiến pháp, không được ban hành luật lệ vi hiến để hạn chế các quyền ấy. Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhưng quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, đảng phải nằm trong chứ không nằm ngoài và không được đứng trên xã hội.
Hỏi: Chúng ta có sợ đa nguyên chính trị sẽ làm suy yếu đảng Cộng sản Việt Nam và cuối cùng là mất quyền lãnh đạo? Bởi vì chấp nhận đa nguyên chính trị thì phải thực hiện các quyền tự do, trong đó có quyền lập hội, từ đó xuất hiện đảng đối lập có cương lĩnh cạnh tranh với đảng Cộng sản?
Đáp: Đó chính là sự ngộ nhận của những ai có thói quen độc quyền chân lý, theo chủ nghĩa giáo điều. Xu thế thời đại là tự do, dân chủ. Cách mạng khoa học kỹ thuật, bùng nổ thông tin, giao lưu quốc tế làm cho xu thế đó chuyển động rất nhanh chóng và có tính dây chuyền. Không ai có thể bưng bít thông tin, ngoảnh mặt trước đòi hỏi của nhân dân, ngăn chặn sự vận động tất yếu của cuộc sống. Bản chất của cuộc sống là đa nguyên. Đổi mới chính là thuận theo bản chất cuộc sống xã hội vốn mang tính đa nguyên cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Trên kia đã nói, đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội, có nghĩa là thế nào? Đổi mới chính trị, trước hết Đảng phải tự đổi mới mình, phải trở thành đảng dân tộc, kết tinh truyền thống dân tộc và trí tuệ thời đại. Đảng phải thực hiện dân chủ mạnh mẽ từ trên xuống dưới, từ Bộ Chính trị trở đi.
Đảng không bao biện lấn sân làm thay nhà nước, không duy trì chế độ đảng trị, toàn trị. Nhà nước là công cụ của dân. Nhà nước quản lý theo luật và bằng chính sách chứ không làm thay doanh nghiệp. Kế hoạch nhà nước nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường. Ngược lại, nếu duy trì tình trạng như hiện nay thì không phải làm cho Đảng, cho nhà nước vững mạnh mà là tạo môi trường xã hội dung dưỡng độc đoán, lạm quyền, tham nhũng làm thoái hóa Đảng và mục ruỗng Nhà nước.
Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Trong hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels cho rằng “hình thức thương mại, bởi lực lượng sản xuất đang có quyết định ở một giai đoạn lịch sử và trở lại quyết định lực lượng sản xuất, đó là xã hội dân sự” và “xã hội dân sự bao gồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất”. Hai ông cho rằng, xã hội dân sự tồn tại ở mọi thời đại với tư cách tổ chức xã hội trực tiếp bắt nguồn từ sản xuất và thương mại, đồng thời tạo thành nền tảng của nhà nước và mọi kiến trúc thượng tầng tinh thần khác. Các chế độ độc tài, phát xít Hitler, Mussolini thực hiện chế độ toàn trị xóa bỏ xã hội dân sự đã bị thất bại. Mô hình xô viết Stalin cũng xóa bỏ xã hội dân sự là nguyên nhân đưa tới quan liêu hóa, khủng hoảng xã hội. Tình trạng đó chúng ta phải khắc phục. Nhiều năm qua các đoàn thể quần chúng đều bị chính trị hóa, hành chính hóa, không đại diện quyền lợi cho đoàn viên, hội viên, hạn chế sáng kiến của họ, quan trọng hơn là chỉ tiêu sự góp ý thẳng thắn của họ đối với đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước. Thực hiện quyền tự do lập các hội, đoàn, các câu lạc bộ, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân, tương ái, tự trang trải về tài chính, đó chẳng những đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng mà còn khôi phục xã hội dân sự, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, làm lành mạnh kinh tế thị trường.
Trong môi trường dân chủ, thượng tôn pháp luật, đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như mọi tổ chức và cá nhân có điều kiện để phát triển lành mạnh. Đảng Cộng sản Việt Nam có một quá trình lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khởi xướng đổi mới, nay lại mạnh mẽ tự đổi mới mình để trở thành đảng của dân tộc, không dùng quyền lực thay cho năng lực, trí tuệ. Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc. Liệu có đảng đối lập nào đưa ra cương lĩnh trái với lợi ích dân tộc mà giành được lòng dân đối với đảng Cộng sản? Chỉ có làm ngược lại, không chịu đổi mới chính trị, cố giữ thể chế độc quyền, trong khi xã hội đã chuyển sang đa nguyên về kinh tế, đa nguyên thành phần xã hội, tài nguyên tư tưởng, văn hóa thì như vậy không khác nào đặt bản trong tình thế của một cây cổ thụ đứng đơn độc trước bão tố!
Hỏi: Có nên duy trì các chỉ đạo báo chí của Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương như hiện nay? Thực dân Pháp đã từng chấp nhận quyền tự do báo chí đối với nhân dân nước Việt Nam thuộc địa. Chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có hai lần thực hiện tự do báo chí, lần đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám cho đến toàn quốc kháng chiến, lần thứ hai sau 30 tháng tư 1975 với báo tư nhân Tin Sáng cho đến tháng 6 năm 1981. Cả hai lần ấy, báo chí tư nhân đều có những đóng góp rất tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đổi mới chính trị, phải chăng đã đến lúc chuyển tự do báo chí tự quyền “tự do của tập thể” sang “quyền tự do của mỗi người” như Marx, Engels nói, như Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi? Trong sách “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi gọi báo tức là một tờ báo về chính trị, về kinh tế thì văn học như chúng ta đã thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền lập ra”. Tại sao chúng ta không thực hiện ước nguyện của Hồ Chí Minh từ năm 1919 về quyền tự do báo chí trong bản yêu sách gửi hội nghị Hòa Bình Versailles?
Đáp: Ngày 24 tháng 9 năm 1982, Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về các quyền dân sự và chính trị. Công ước này có quy định quyền tự do ngôn luận: mọi người có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; được tự do ngôn luận bao gồm tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến bằng các hình thức tuyên truyền miệng, viết ra, in, tự do sáng tạo các hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên cam kết không hạn chế hoặc hủy bỏ những quyền tự do tính phổ biến của nhân loại đã được quy định ở đây. Nhà nước ta sẽ phải sớm sửa đổi luật báo chí, luật lập hội, thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội như các quốc gia dân chủ trên thế giới.
Cuối năm 1989 anh Trần Xuân Bách có bài phát biểu “Chủ nghĩa xã hội thật sự là gì?” Nội dung bài ấy tương tự những điều anh trả lời trên đây. Nhiều người cho rằng anh Trần Xuân Bách chưa bao giờ nói đến “đa đảng”. Thật ra chấp nhận đa nguyên chính trị tức là chấp nhận sự có mặt của các tầng lớp, các nhóm có lợi ích khác nhau, có quan điểm chính trị khác nhau, cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh. Chấp nhận đa nguyên chính trị tức là đã chấp nhận đa đảng sẽ diễn ra ngày sau đó.
Dịp tết 1990, vài tháng trước khi bị kỷ luật ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, anh Trần Xuân Bách có sáng tác bài thơ sau đây.
Bài thơ khai bút 1990
Ngày xuân nhớ cụ Tú Xương,
Cố nhân chính trực, đồng hương nghĩa tình.
Lẳng lặng mà nghe tiếng nói dân.
Lấy dân làm gốc phải nghe dân.
Trí khôn thiên hạ không hề thiếu.
Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần.
Nhà thơ Hải Như đề nghị thay chữ “mình” cho chữ “người” ở câu cuối. Anh Bách tiếp thu nhưng bảo, lấy làm tiếc vì đã phổ biến cho nhiều bạn bè.
Chiều thứ 5, ngày 22 tháng 3 năm 1990, anh Bách gọi điện bảo tôi, 7 giờ tối đến nhà anh, có chuyện rất cần biết. Cả ba anh em, Lưu Văn Hân, Phạm Văn Nhàn và tôi cùng đến. Trên lề đường trước nhà anh có nhiều người mặc thường phục đứng trên vỉa hè săm soi số xe. Anh Bách vẫn ra tận cổng đón chúng tôi. Chị Thịnh vẫn vui vẻ pha cà phê, gọt táo mời bạn bè. Anh Bách kể chuyện Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khai mạc từ ngày 12-3. Anh đã bị phê phán rất dữ dội. Anh cho rằng, mình chắc chắn sẽ bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, thậm chí có ý kiến đòi khai trừ anh ra khỏi Đảng. Tôi tỏ ý băn khoăn, chẳng lẽ lại có thể xảy ra điều tồi tệ đến mức ấy, hoàn toàn trái với tinh thần đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật của Đại hội 6? Anh Bách kể: “Một đồng chí trong Bộ Chính trị cho rằng, việc làm của đồng chí Trần Xuân Bách đã khiến cho đồng chí, bạn bè lo âu, còn kẻ thù thì vô cùng mừng rỡ”. Một người đã bị nhận xét tới mức đó thì làm sao có thể coi trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương?” Anh Bách cho biết nhận xét đó không phải là ý kiến cá biệt, quan trọng hơn, đó là quan điểm của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Chỉ có hai ủy viên bộ chính trị, Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt cho rằng, từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, anh Bách muốn công cuộc đổi mới phải “đi hai chân” để đất nước phát triển và đảng vững mạnh.
Hôm ấy, chia tay anh chị, chúng tôi buồn rười rượi, dù anh động viên: “Cho dù sắp tới sự nghiệp đổi mới có bị khó khăn hơn. Tuy nhiên cái gì thuộc về quy luật, xu thế thì nó vẫn cứ đi tới, dù có chậm”.
Ngày 27-3-1990 Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa 6, thông qua nghị quyết có những nội dung quan trọng như sau:
… Nghị quyết đã chỉ ra tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng các nước xã hội chủ nghĩa đối với nước ta, trước hết là về các mặt chính trị, tư tưởng: một số người hoài nghi chủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và nhà nước, một số cán bộ, đảng viên tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm sai lầm về cải tổ, cải cách của nước ngoài một cách máy móc, giáo điều; một số ít phần tử cơ hội bất mãn đang đẩy mạnh hoạt động chống lại sự lãnh đạo của đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng, đòi dân chủ không giới hạn.
Hội nghị nhận định: đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đang còn nước ta là một trọng điểm chống phá, ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình bằng những thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và quân sự rất thâm độc. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa ta và địch trên phạm vi thế giới, ở nước ta và ba nước Đông Dương đang diễn ra gay gắt, quyết liệt và phức tạp.
Việc Bộ Chính trị và ban bí thư tự phê bình và Trung ương góp ý kiến phê bình Bộ Chính trị, ban bí thư được tiến hành một cách nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn, chân thành và thân ái, với tinh thần trách nhiệm và xây dựng, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong trung ương.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa 6 đã quyết định cách chức ủy viên Bộ Chính trị, bí thư trung ương, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách vì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu.”
Sau khi anh Bách bị cách chức, bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch xin nhận anh về làm cán bộ nghiên cứu của Bộ Ngoại giao. Nhưng lúc này chính cái ghế của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng đang lung lay. Cũng như Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch hiểu rất rõ nguyên nhân suy sụp của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, trái với xu thế thời đại. Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm, về đối nội, dân chủ hóa xã hội, đối ngoại cần mau chóng quan hệ bình thường với Hoa Kỳ và thế giới dân chủ. Trong khi đó, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và nhiều người trong Bộ Chính trị cho rằng phe xã hội chủ nghĩa suy sụp là do các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại. Do đó, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng phải cầu hòa với Trung Quốc. Trung Quốc dù có tư tưởng bành trướng thì cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Để lấy lòng Bắc Kinh, Bộ Chính trị đứng đầu là tổng bí thư Nguyễn Văn Linh loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch một cách vô nguyên tắc, không cho tham gia đoàn cấp cao đi Hội nghị Thành đô. Sau khi Nguyễn Cơ Thạch bị loại, anh Bách cũng xin nghỉ việc.
Anh Trần Xuân Bách bị kỉ luật ít lâu thì phó tổng biên tập Bùi Tín của báo Nhân Dân nhân được cử đi dự họp báo Nhân Đạo, đã trả lời phỏng vấn đài BBC về dân chủ hóa, bị báo Nhân Dân thi hành kỉ luật, và xin tị nạn chính trị tại Pháp.
Sau 20 năm nhìn lại, thực tế diễn ra trên thế giới và trong nước đã cho thấy ý kiến Trần Xuân Bách lòng hoàn toàn chính xác.
Tình hình thế giới:
Do duy trì quá lâu mô hình xô viết cho đến ngày sụp đổ đã khiến cho nhân dân các nước Nga và Đông Âu cạn niềm tin đối với các đảng Cộng sản và cánh tả. Ở liên bang Nga, suốt 20 năm qua, thời hậu Liên Xô, đảng Cộng sản, tổng bí thư G. Zyuganov chỉ nhận được tối đa khoảng 20% số phiếu trong các cuộc bầu cử. Trong khi đó, Đảng Nhân dân Campuchia thì chấp nhận “cuộc chơi” đa đảng đã bị lép vé, nhưng nhờ giương cao ngọn cờ dân tộc, nay đã giành được thế thượng phong trên chiến trường đất nước. Hiện nay, đợt sóng dân chủ lần thứ tư đang cuồn cuộn, nước Miến Điện gần sát Việt Nam đã chuyển từ quân phiệt sang dân chủ.
Sau 20 năm tái lập quan hệ đồng chí, trên cơ sở “16 chữ vàng” và “4 tốt” với Trung Quốc, ta càng ngày càng bị họ dồn ép: thành lập thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa; mời thầu dầu khí ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của ta; xua hàng vạn tàu cá, tàu vũ trang vào vùng biển Trường Sa; đòi “lấy máu người Việt làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa!”
Kỷ niệm 10 năm hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), chính phủ Việt Nam tuyên bố: Việt Nam nhất quán chủ trương sẵn sàng cùng Hoa Kỳ nỗ lực đưa quan hệ hai nước Việt Mỹ lên tầm cao mới. Ngày 2 tháng 8 năm 2012 Thượng viện Hoa Kỳ thông qua nghị quyết ủng hộ vai trò ASEAN trong vấn đề biển Đông, ủng hộ tuyên bố DOC năm 2002 giữa ASEAN – Trung Quốc. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực đóng góp vòng đàm phán thứ 13 hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Tình hình trong nước:
Nghị quyết trung ương 4 (khóa 11) nhận định “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”. Tham nhũng đã từ vài “con sâu” trở thành cả “bầy sâu”. Sự khiếu kiện đất đai dai dẳng bởi nạn cướp đất, đẩy nông dân tới bước phản ứng bằng bạo lực. Đội quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc đã nảy sinh cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn làm bom tự tạo chống cưỡng chế phi pháp. Một trăm hộ dân Văn Giang đương đầu với 1000 cảnh sát vũ trang. Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo, có đến 30 % số người bị suy dinh dưỡng. Họ đã tổ chức hơn 5000 cuộc đình công đòi tiền lương, cải thiện bữa ăn, nhiều cuộc huy động từ 5.000 đến 10.000 người, nhưng vẫn bị coi là bất hợp pháp, vì không được sự chỉ đạo của công đoàn! Trí thức bị cấm phản biện bằng Nghị định 97 của thủ tướng. So sánh tư thế của nhà nước Việt Nam với nhà nước Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, người Việt không khỏi hổ thẹn. Mỹ sẵn sàng giúp Philippines bảo vệ chủ quyền, trong khi đó đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện dân chủ, nhân quyền làm điều kiện “thế chấp”!
Nghĩ về vận nước, không khỏi chua xót nhớ Trần Xuân Bách! Nguyện vọng khoán hộ của Kim Ngọc tuy đã thành hiện thực, từng đưa Việt Nam vào hàng nước xuất khẩu lương thực lớn thứ hai thế giới. Nhưng cho đến nay, giấc mơ về quyền sở hữu ruộng cày và cuộc sống no đủ với hạt gạo do mình làm ra của người dân vẫn còn xa ngái! Bao giờ tư tưởng Trần Xuân Bách trở thành hiện thực trong cuộc sống dân tộc?
Ngày 20-5-2002 tại nhà anh Trần Xuân Bách ở (Trung Tự) Hà Nội, nhà thơ Hải Như đã viết bài thơ tặng anh:
Trần Xuân Bách
Chắc chắn lịch sử sau này sẽ dành một trang về anh,
– khách quan phán xử
Tôi chỉ xin lưu ý nhỏ mai đời:
Cái Trần Xuân Bách mất rõ rồi, nhưng còn cái được,
Tuyệt vời sao!
Chia sẻ tiếng sét giáng xuống đời anh,
Có một người đàn bà nguyện làm ngọn thu lôi vượt qua giông bão.
(Chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ “liên quan” đè lên cơm áo).
Trần Xuân Bách. Anh là nạn nhân và cũng là tác giả tội ác.
Đúng không nào?
Trên chục năm dài lê thê con chim bằng gậm nhấm nỗi cô đơn
Tâm hồn vẫn sáng trong không rũ buồn vì khép cánh…
Câu “chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ ‘liên quan’ đè lên cơm áo” tôi cảm thấy như chỉ trích riêng mình!
Sau khi anh Trần Xuân Bách bị kỷ luật, tôi còn tiếp tục làm Tổng biên tập báo Lao Động ba năm nữa, nhưng không đến thăm anh một lần nào! Tôi tự bào chữa: vì thời gian này tôi phải liên tục đối phó với quá nhiều áp lực, chống đỡ cho tờ báo. Vì tôi đặt tòa soạn báo Lao Động ở Sài Gòn; gia đình, vợ con tôi cũng ở Sài Gòn, cho nên thời gian tôi có mặt ở Hà Nội rất eo hẹp. Nhưng mọi lý do vẫn không đủ để cho tôi có thể từ chối cho mình một chữ “Hèn”! Anh Hải Như an ủi: “Mình biết, rất nhiều anh nhờ anh Bách mà leo lên ‘quyền cao chức trọng’, nhưng sau khi anh bị kỷ luật, suốt bao năm có anh nào dám đến thăm ông thầy cũ của họ đâu!”
Cũng đừng trách họ hèn, bởi chúng ta phải sống ‘một thời vô luân’ mà!”
Ngày anh Bách qua đời (1-1-2006), nhà thơ Hải Như viết bài “Vĩnh biệt người bạn cùng quê”, có câu này:
“Ngày anh đi xa, trên báo Nhân Dân, bạn đọc thấy những gì thuộc về anh đều được trả lại”
Tôi nghĩ, Trần Xuân Bách không hiểu rõ cụ Hồ bằng Nguyễn Văn Linh. Ai thân cận với cụ Hồ hơn Vũ Đình Huỳnh? Vậy mà Vũ Đình Huỳnh không đòi hỏi “đa nguyên” như Trần Xuân Bách, vậy mà vẫn bị đi tù! Nhà thơ Hải Như cũng đã không chính xác khi vội mừng “những gì thuộc về anh đều được trả lại”! Cho dù điếu văn có nhắc lại tất cả công lao của Trần Xuân Bách, cho dù đã kể ra đủ các loại huân chương mà anh đã được trao tặng, cho dù cuối cùng, anh đã được nằm trong nghĩa trang Mai Dịch, nơi chỉ dành riêng cho các vị đại công thần của chế độ nhưng tư tưởng cao cả mà Trần Xuân Bách hằng tâm nguyện và dám hiến mình, đâu đã được trả lại?!

Thursday, 12 September 2013

Về Nguyễn Cơ Thạch

Bài của Phan Doãn Nam, đăng trên viet-studies cho thấy tầm cỡ về insight của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Bài viết cho thấy Nguyễn Cơ Thạch không chỉ tài giỏi, mà còn là một con người rất thực tiễn, dựa trên thực tiễn suy nghĩa và hành động vì lợi ích của đất nước. Một ví dụ là quan điểm, thái độ của ông đối với Trung Quốc. Thế mà, vì lẽ gì đó Trung Quốc vẫn không ưa ông và việc ông phải ra đi (rời chức Bộ trưởng Ngoại giao) dường như là cái giá phải trả cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Ở gần cuối bài, tác giả có vẻ hơi bị chủ quan khi nhận xét cán bộ Ngoại giao Việt Nam ngày nay không thua kém cán bộ Ngoại giao các nước. Đồng ý, nhưng là các nước nào.

NGUYỄN CƠ THẠCH: KIẾN TRÚC SƯ CỦA NỀN
NGOẠI GIAO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Phan Doãn Nam[*]
         
        Tôi có vinh dự được làm việc dưới trướng của anh Nguyễn Cơ Thạch ngay từ khi mới bước chân vào Bộ Ngoại giao. Nguyên là năm 1956, sau khi học xong lớp Phiên dịch tiếng Anh của Bộ, tôi cùng anh Nguyễn Dy Niên và anh Đặng Phong Hoàn được cử sang công tác ở Tổng Lãnh sự quán nước ta mới mở tại New Delhi, Ấn Độ. Anh Thạch đã sang làm Tổng Lãnh sự ở đó sáu tháng trước. Học xong lớp “Phiên dịch”, chúng tôi được trang bị khoảng trên dưới 3000 từ tiếng Anh. Sang Ấn Độ tôi được anh Lưu Đoàn Huynh, lúc bấy giờ là Chánh Văn phòng của Tổng Lãnh sự quán phân công làm thường trực. Khi phân công công tác cho tôi, anh ấy bảo: “Sếp Thạch sau này là người sẽ nắm toàn bộ Bộ Ngoại giao đấy. Ghê lắm đấy. Bây giờ ở đây ai muốn gặp sếp Thạch đều phải qua cậu. Cho nên công tác thường trực của cậu rất quan trọng. Cậu cố gắng lên”. Nghe bùi tai, tôi liền chấp nhận công việc vì thấy cũng rất “oai”. Mặt khác, tôi nghĩ rằng làm thường trực thì sẽ có nhiều thì giờ để học thêm tiếng Anh qua giao dịch với khách. Khi không có khách thì đem sách ra học. Không ngờ thủ trưởng Thạch thấy tôi lúc nào cũng cầm sách học nên luôn thăm hỏi và động viên thêm. Tổng Lãnh sự quán hồi ấy chỉ vẻn vẹn có trên dưới 10 người. Ba tháng sau, anh Huynh gặp lại tôi bảo “cậu không phải làm thường trực nữa. Việc này sẽ giao cho một nhân viên người Ấn làm. Cậu lên giúp anh Thạch làm thư ký riêng. Nhiệm vụ của cậu là báo cáo, nhắc nhở giờ giấc các hoạt động hàng ngày của anh Thạch và phiên dịch cho anh Thạch khi đi dự các cuộc chiêu đãi của Ngoại giao Đoàn". (Trong việc phân công nhiệm vụ này, chủ ý của anh Thạch là nhằm giảm bớt công việc cho anh Huynh, từ nay anh Huynh chỉ phải dịch trong các cuộc tiếp xúc quan trọng, đồng thời tạo điều kiện cho tôi thực hành tiếng Anh, và bản thân anh cũng có điều kiện để sử dụng vốn tiếng Pháp của mình). Tôi đã hết sức cố gắng ngày đêm để hoàn thành nhiệm vụ mới. Với cương vị công tác này, tôi đã đi theo phiên dịch cho anh Thạch dự trên 300 cuộc chiêu đãi. Công việc này là rất khó khăn vì trình độ Anh văn của tôi còn quá non, nhiều khi phải biến báo mới dịch được hết ý. Thường những chỗ nào bí thì tôi dịch vòng quanh. Chẳng hạn có hôm tôi không biết tiếng Anh gọi “con gà mái” là gì, tôi phải nói “vợ con gà trống”. Cũng may là thời gian ấy do còn "mù" tiếng Anh, nên khi thấy tôi dịch mọi người ồ ra cười thì anh Thạch lại khen tôi “dịch tốt”.
          Thấy tôi làm “tốt” công tác như vậy, chẳng bao lâu sau thủ trưởng Thạch bảo anh Huynh chuyển tôi sang làm công tác báo chí, phụ trách việc xuất bản Bản tin hàng tháng của Tổng lãnh sự quán và công tác vận động báo chí để chuẩn bị cho chuyến thăm Ấn Độ của Hồ Chủ Tịch (2/1958).
          Anh Thạch rất coi trọng chuyến thăm này của Hồ Chủ Tịch vì nó là chuyến thăm đầu tiên của Người sang một nước lớn không phải là XHCN. Hơn nữa, Ấn Độ là Chủ tịch Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát việc thi hành Hiệp định Geneve về Đông Dương. Cho nên trước chuyến thăm của Hồ Chủ tịch, Ấn Độ sẽ đón Ngô Đình Diệm để giữ thế cân bằng. Để chuẩn bị tốt cho chuyến thăm, anh Thạch bảo không những phải tranh thủ Ấn Độ đón tiếp thật trọng thể Hồ Chủ Tịch, mà còn phải làm cho chuyến đi trở thành một cột mốc đưa quan hệ hai nước nói chung và quan hệ giữa hai nhà lãnh đạo lên một tầm cao mới và trở thành nền tảng của tình hữu nghị đời đời giữa hai dân tộc. Với mục đích đó, anh Thạch chủ trương phải đi sâu nghiên cứu quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc và lãnh tụ của hai nước. Do Tổng Lãnh sứ quán quá ít người, anh đã cho thuê một người Ấn Độ tiến bộ (do Đảng Cộng sản Ấn Độ giới thiệu) để sưu tầm tài liệu về quan hệ hai nước. Anh em Tổng Lãnh sự quán (trong đó có tôi) cũng được phân công đến các thư viện lớn của Ấn Độ để tìm tài liệu. Kết quả là đã sưu tầm được một số lượng lớn tài liệu. Lúc này vốn tiếng Anh của anh Thạch đã khá, nói chưa tốt, nhưng đọc rất tốt. Ngày đêm bản thân anh Thạch, tôi và anh Huynh chia nhau đọc. Kết quả thật khả quan, qua đợt nghiên cứu này, chúng tôi thấy được một số điểm rất hay, thiết thực phục vụ cho chuyến thăm của Hồ Chủ Tịch. Một là, quan hệ Việt Nam – Ấn Độ có từ rất lâu đời, có đến 1 - 2 ngàn năm trước. Hai là, ảnh hưởng của Ấn Độ đối với Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng là bằng con đường văn hóa, tôn giáo (đạo Phật). Ba là, bản thân gia đình của Thủ tướng Nehru là một gia đình trí thức tiến bộ. Thân sinh Thủ tướng Nehru là cụ Motilal Nehru, một chiến sĩ chống đế quốc và đã gặp Hồ Chủ Tịch tại Brussels năm 1927 tại Hội nghị Quốc tế đại biểu các dân tộc bị áp bức. Anh Thạch đã báo cáo những chi tiết này về nhà trình Hồ Chủ Tịch và đã được khen. Mặt khác, Tổng Lãnh sự quán cũng dùng những mối quan hệ lâu đời để vận động báo chí và các đoàn thể quần chúng trong tuyên truyền chuẩn bị cho chuyến thăm của Hồ Chủ Tịch. Kết quả chuyến thăm đã thành công quá sự mong đợi của ta. (Thật tình anh Thạch cũng không biết có phải do báo cáo của Tổng lãnh sự quán hay không mà khi gặp Nehru ra sân bay đón, Bác đã nói với Nehru là Bác có mang theo một vòng hoa để đến viếng mộ cụ Motilal. Việc làm này đã làm cho Thủ tướng Nehru hết sức xúc động và quan hệ giữa hai vị lãnh tụ trở nên hết sức thân mật ngay từ đầu chuyến thăm).
          Sau khi hết nhiệm kỳ công tác ở Ấn Độ về nước, anh Thạch được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Tình hình ở Lào lúc đó rất phức tạp. Anh được Bộ Chính trị cử làm Phó Trưởng đoàn (và sau đó là Quyền Trưởng đoàn) tại Hội nghị Quốc tế Geneve về Lào. Đây là lần đầu tiên anh Thạch dự một hội nghị quốc tế có thành phần đủ cả các nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc. Song với kiến thức về tình hình Lào do anh tự theo dõi nghiên cứu và bản lĩnh chính trị vững vàng của mình, với những lập luận sắc bén về luật pháp quốc tế mà anh đã tự học, anh Thạch đã thuyết phục được Hội nghị chấp nhận phương án giải quyết vấn đề Lào do Việt Nam đề xuất. Luật sư Trần Công Tường, một thành viên của Đoàn đã khen: "Qua Hội nghị này Nguyễn Cơ Thạch đã trở thành một luật sư thực thụ".
          Năm 1964, sau khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, anh Thạch được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh chống Mỹ. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời xem đây là dịp tốt để tổ chức lại bộ máy nghiên cứu của Bộ Ngoại giao, anh Thạch đã thành lập ba vụ mới trong Bộ: Vụ I, chuyên theo dõi động thái hàng ngày của Mỹ; Vụ II, chuyên lo đối sách; và Vụ Nghiên cứu tư liệu, chuyên nghiên cứu cơ bản về Mỹ. Đồng thời, để thu hút các đơn vị trong Bộ tham gia công tác theo dõi âm mưu, ý đồ toàn cầu của Mỹ, anh Thạch đã chỉ thị tất cả các Vụ khu vực phải theo dõi hoạt động và ý đồ của Mỹ trong quan hệ song phương với các nước, đặc biệt với các nước lớn. Mặt khác, bản thân anh Thạch cũng đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn ngoại giao của Mỹ, nhất là đối với Việt Nam. Anh đã chỉ thị cho các cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài tìm mua sách báo nói về các vấn đề trên gửi về trong nước để anh tự nghiên cứu, hoặc phân công cho cán bộ giỏi ngoại ngữ đọc rồi báo cáo lại. Kết quả của công tác nghiên cứu này đã thường xuyên được báo cáo lên Bộ Chính trị, giúp Bộ Chính trị đề ra các bước đi thích hợp trong cuộc đấu tranh với Mỹ. Anh Thạch thường xuyên được trường Nguyễn Ái Quốc và các Học viện khác mời giảng về Mỹ. Bộ Chính trị rất tin tưởng anh và xem anh như là chuyên gia số 1 về Mỹ. Do đó trong thời kỳ đầu đàm phán Paris, anh Thạch đã được giữ lại ở nhà để giúp Bộ Chính trị theo dõi Hội nghị, chuyển ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị đến Đoàn đàm phán. Sau chiến thắng Xuân – Hè (1972), Bộ Chính trị chủ trương chuyển chiến lược đàm phán, từ chiến lược chiến tranh sang chiến lược hòa bình và chỉ thị cho Tiểu ban CP50 (được thành lập từ năm 1971) do anh phụ trách soạn thảo “dự thảo Hiệp định Paris về Việt Nam”. Suốt 3 tháng liền dưới sự chỉ đạo của anh Thạch, CP50 đã xây dựng xong dự thảo. Anh làm việc miệt mài suốt ngày đêm, cân nhắc, chỉnh sửa từng chữ, từng điều khoản và cuối cùng đã được Bộ Chính trị thông qua và ngày 8/10/1972 đồng chí Lê Đức Thọ đã chuyển cho phái đoàn Mỹ ở Paris.
          Để giúp thực hiện việc chuyển chiến lược này, Bộ Chính trị đồng thời cử anh Thạch sang Paris làm trợ lý cho đồng chí Lê Đức Thọ, kiêm Trưởng Đoàn chuyên viên của phái Đoàn ta. Trong buổi thông báo nội bộ của Đoàn, anh Phan Hiền, cũng là chuyên viên của Đoàn (sau Hội nghị Paris, anh Phan Hiền được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Ngoại giao, sau đó làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp) đã cho anh em biết: “Lần này anh Sáu (Lê Đức Thọ) sang có mang theo cả Pê-lê để chuyên làm bàn”. Anh em phấn khởi vỗ tay ầm lên. Đúng anh Thạch là “Pê-lê” thật. Là người chủ trì việc khởi thảo Dự thảo Hiệp định, anh Thạch thuộc lòng từng điều khoản, từng câu, từng chữ của dự thảo Hiệp định. Anh lại rất thông thạo về luật pháp quốc tế. Kissinger, người đối thoại chính của Cố vấn Lê Đức Thọ rất gờm anh Thạch đến mức y gợi ý với đồng chí Lê Đức Thọ là đừng để anh Thạch dự các cuộc họp hẹp giữa y với đồng chí vì “cứ mỗi lần chúng ta đi gần đến thỏa thuận thì ông Thạch lại viết giấy đưa cho ông Cố vấn” (Lời của Kissinger nói khi đi dạo riêng với đồng chí Lê Đức Thọ).
          Tuy trong đấu tranh trên bàn hội nghị rất nghiêm chỉnh, không nhân nhượng và kiên quyết bảo vệ lợi ích của dân tộc, đường lối của Đảng trong quan hệ với Mỹ, nhưng vốn là người có tầm nhìn chiến lược anh Thạch luôn luôn có thái độ thân mật, thậm chí, biết hài hước và không làm cho đối phương tự ái, mà vẫn đạt được mục đích của mình.
         Sau Hội nghị Paris, anh Nguyễn Cơ Thạch được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Ngoại giao. Lúc đó bối cảnh quốc tế của nước ta bị xấu đi nghiêm trọng. Các thế lực thù địch đã lợi dụng việc ta đưa quân vào Campuchia giúp nhân dân bạn đánh diệt bè lũ diệt chủng Pôn-Pốt để tiến hành bao vây cấm vận nhằm cô lập nước ta trên trường quốc tế. Tình hình đó đặt ra cho ngoại giao nước ta nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp.
        Việc tháng 2/1979 Trung Quốc xua 60 vạn quân tiến đánh nước ta dưới danh nghĩa "dạy cho Việt Nam một bài học" đã biến quan hệ hai nước từ là đồng minh chuyển sang thù địch. Trong bối cảnh phức tạp đó, anh Nguyễn Cơ Thạch đã chỉ ra cho cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao thấy rằng "cuộc hành quân xâm lược của Trung Quốc chỉ là một cuộc phô trương lực lượng nhằm cổ vũ các nước ASEAN và phương Tây, đặc biệt là Mỹ tiếp tục chống ta về vấn đề Campuchia và sẽ sớm chấm dứt". Trước sau như một anh Thạch vẫn chủ trương giải quyết những bất đồng với Trung Quốc thông qua tiếp xúc và thương lượng hòa bình để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Do đó, sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi 6 tỉnh biên giới, anh Thạch đã báo cáo với Bộ Chính trị cho đề nghị với Trung Quốc mở các cuộc đàm phán nhằm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Các cuộc đàm phán với Trung Quốc đã được mở ra ở Hà Nội và Bắc Kinh. Tuy chưa đạt được kết quả gì, nhưng các cuộc đàm phán này đã làm cho các nước ASEAN và Mỹ thấy rằng Trung Quốc vẫn không có ý cắt đứt quan hệ với Việt Nam. Trong lúc chưa có thể nối lại các cuộc đàm phán trực tiếp và chính thức với Trung Quốc, anh Nguyễn Cơ Thạch đã tranh thủ tiếp xúc với Đại sứ của Trung Quốc ở Hà Nội và nhất là với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc trong thời gian dự họp Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ở New York. Anh Thạch đã hai năm liền đến dự Lễ Quốc khánh của Trung Quốc tổ chức tại trụ sở của LHQ, do Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc mời. Mặt khác, để tỏ thiện chí với Trung Quốc và thay đổi nhận thức về Trung Quốc trong toàn đảng và toàn dân anh Thạch đã trình lên Bộ Chính trị (20/5/1987) kiến nghị của Bộ Ngoại giao bỏ câu "Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất" trong lời nói đàu của Hiến Pháp và Điều lệ Đảng và đã được trên đồng ý.
         Để chống lại âm mưu của các lực lượng thù địch nhằm bao vây cấm vận nước ta, anh Thạch đã nghĩ ngay đến việc làm dịu quan hệ với Mỹ. Nhằm mục đích này, anh Thạch đã đề nghị với Bộ Chính trị từng bước giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Đã hai lần ta đón tiếp Tướng Vesey, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ về người Mỹ mất tích (MIA – POW). Đồng thời anh Thạch đã kiến nghị Bộ Chính trị hủy bỏ việc đòi Mỹ bồi thường chiến tranh. (Anh đã nghiên cứu lại bức thư của Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng về việc Mỹ sẽ đóng góp để hàn gắn vết thương chiến tranh và phát hiện ra câu mà Kissinger đã thêm vào ở cuối thư là: “Hai bên sẽ nghiêm chỉnh thực hiện cam kết này theo đúng luật pháp của mỗi nước”). Như vậy là đã rõ. Điều này cho thấy không bao giờ ta có được sự bồi thường của Mỹ. Việc ta cứ tiếp tục đòi Nixon phải thực hiện điều y đã cam kết chỉ làm cho quan hệ hai nước càng khó được cải thiện. Dù Nixon có “thiện chí” muốn đóng góp thì Quốc hội Mỹ cũng phủ quyết. Mà Nixon thì không bao giờ có thiện chí đó. Những sáng kiến của Bộ Trưởng Nguyễn Cơ Thạch, như đã nói ở trên đã thúc đẩy một bước việc bình thường hóa quan hệ hai nước nước. Ngày 18/7/1990 Ngoại trưởng Mỹ James Baker tuyên bố Hoa Kỳ không ủng hộ ghế của Campuchia Dân chủ tại Liên hợp quốc và sẽ đàm phán trực tiếp với Việt Nam để tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia. Tiếp đó, ngày 17/10/1990 Ngoại trưởng Mỹ đã chính thức mời Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch sang thăm thủ đô Hoa Kỳ. Qua những sự kiện này có thể thấy hoạt động của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã giúp khởi động cho quá trình đi đến bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, diễn ra 5 năm sau đó dưới thời Tổng thống Clinton. Sự chuyển động trong quan hệ giữa ta và Mỹ đã có tác động to lớn góp phần làm sụp đổ hàng rào bao vây cấm vận kéo dài 10 năm do các thế lực thù địch dựng lên chống ta chung quanh vấn đề Campuchia. Do thấy Mỹ liên tục cử đoàn, gồm các quan chức cấp cao của Chính phủ và Quốc hội vào ta, các nước phương Tây khác cũng bắt đầu cải thiện quan hệ với ta. Pháp ký Nghị định thư viện trợ cho ta (1982) và Ngoại trưởng Pháp thăm ta (1983). Tiếp sau đó Ngoại trưởng Phần Lan (1984) và Ngoại trưởng Thụy Điển (1985) thăm ta. Cũng trong thời gian này, EEC nối lại viện trợ lương thực cho ta để khắc phục thiên tại. Ngoại trưởng Tây Đức (1980) và Ngoại trưởng Nhật Bản (1984) đã đón Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.
           Trong cuộc đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia, được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị anh Nguyễn Cơ Thạch hầu như được toàn quyền hoạt động (lúc cần thiết thì trao đổi ý kiến với Thủ tướng Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Đức Thọ). Theo sáng kiến của anh Thạch và được lãnh đạo Lào và Campuchia đồng ý, Hội nghị Ngoại trưởng 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia đã họp 6 tháng một lần, với địa điểm luân phiên giữa 3 nước. Sau mỗi lần họp, có một cuộc họp báo quốc tế để công bố những sáng kiến mới của 3 nước về giải pháp cho vấn đề Campuchia. Tại các cuộc họp báo này, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thường phải "đứng mũi chịu sào” và thật thú vị là hầu hết các phóng viên của các nước ASEAN và phương Tây tác nghiệp ở Thái Lan đã đến tham dự để nghe Bộ trưởng Thạch nói. Anh Thạch là người có tài hùng biện, rất có duyên với báo giới nên các cuộc họp báo này là những dịp rất tốt để giải thích chính sách của ta và qua các phóng viên (lại rất thích thú lắng nghe anh Thạch nói) giúp dư luận dần dần có nhận thức rõ hơn về sự thật cái gọi là “vấn đề Campuchia”, nhất là việc ta có quân ở Campuchia chỉ là nhằm giúp nhân dân Campuchia chống lại nạn diệt chủng Pôn Pốt.
          Hai là, anh Thạch với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao Việt nam hàng năm có sang trao đổi với Ngoại trưởng các nước ASEAN về vấn đề Campuchia. Các Ngoại trưởng ASEAN tuy không thể sang Việt Nam vì họ đang “bao vây cấm vận” Ta, nhưng họ rất muốn biết ý đồ thực sự của Ta cho nên họ đón tiếp Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch rất trọng thị và thân tình. Tuy lúc bấy giờ Thái Lan được các nước ASEAN xem như là “nước tiền tuyến” trong cuộc đối đầu với ba nước Đông Dương, nhưng tại Thái Lan nguyên Thủ tướng Kriengsak, đương kim Phó Thủ tướng Pichai Ratakul lại nhận anh Thạch làm anh em. Việc này đã ảnh hưởng đến thái độ của đương kim Ngoại trưởng Thái Lan Xa-vet Xila vốn có lập trường cứng rắn trong vấn đề Campuchia. Ở Philippine, Ngoại trưởng Alberto Gatmaitan Romulo, một chính khách nổi tiếng sống từ thời Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã ra tận sân bay đón anh Thạch. Tổng thống Philippine Ferdinand Marcos đã cho máy bay riêng của ông ta chở Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đi tham quan Viện lúa quốc tế IRRI. Đặc biệt thân tình là các cuộc làm việc ở Indonesia và Malaysia. Ở đây các nhà lãnh đạo đã nói với Ta là họ hoàn toàn hiểu sự lo ngại của ta về các thế lực thù địch, nhất là các lực lượng đứng sau Pôn Pốt. Việc ta đưa quân vào Campuchia để diệt bè lũ Pôn Pốt là đúng, nhưng không nên ở lâu quá gây ra một tiền lệ nguy hiểm ở Đông Nam Á.
          Do kết quả của các cuộc đi thăm và trao đổi trực tiếp giữa Ngoại trưởng của các nước ASEAN (đặc biệt với Ngoại trưởng Indonesia) và nhất là việc Việt Nam hoàn thành việc rút quân tình nguyện ở Campuchia về nước tháng 9/1989, (anh Thạch là người đề xuất với Bộ Chính trị chủ trương này từ năm 1982) quan hệ đối thoại giữa 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia với các nước ASEAN được chính thức xác lập, tạo điều kiện thuận lợi cho thành công của Hội nghị Paris về Campuchia, thể hiện qua Hiệp định giải quyết vấn đề Campuchia (1991). Tuy rằng lúc này anh Thạch không còn là Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam và Hiệp định Paris không diễn ra theo cách ta mong muốn, nhưng hai điểm cốt lõi của Hiệp định mà anh Thạch luôn luôn giữ vững trong các cuộc đối thoại với các nước ASEAN đã được thực hiện. Đó là: Loại trừ chủ nghĩa diệt chủng và sự liên hiệp giữa chính phủ Hunsen và Sihanouk (ít người biết rằng chính Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã bàn và khuyến khích ông Hunsen sang Pháp gặp Hoàng thân Sihanouk từ năm 1983).
          Lãnh đạo các nước rất khâm phục và quý mến anh Nguyễn Cơ Thạch. Anh là Bộ trưởng Việt Nam không những được giới học giả, báo chí thế giới yêu mến và kính trọng, mà còn được rất nhiều bạn đồng nghiệp ở các nước ASEAN, các nước xã hội chủ nghĩa và một số nước phương Tây khâm phục.